
THẬP GIÁ VÀ PHỤC SINH TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
Chủng sinh Stêphanô Trần Ngọc Chi
Thập Giá và Phục Sinh hiển nhiên là không gian duy nhất cho tiến tŕnh biểu lộ và thực thi nội dung của đời sống đức tin, và như vậy của niềm hy vọng Kitô giáo. V́ cuộc sống Kitô hữu không bao giờ là con đường thẳng tất định, nhưng luôn lên lên xuống xuống bởi tính chất hữu hạn, hay đổi thay cũng như các mặt sáng – tối nơi con người. Vậy Thập Giá và Phục Sinh hiện hữu như hai mặt của một thực tại duy nhất của bộ mặt niềm tin như âm với dương : trong Thập Giá tiềm ẩn Phục Sinh, trong Phục Sinh chứa đựng Thập Giá. Thập Giá là cơ sở cho Phục Sinh trở thành hiện thực, Phục Sinh là nơi chốn mở ra viễn tượng về Thập Giá . Suy nghĩ về hai chiều kích trọng tâm này của đời sống đức tin, đưa ta đối diện với câu hỏi cơ bản và cũng là một thách đố lớn : ta phải làm ǵ để có thể đọc được và khám phá ra năng lực với ư nghĩa cứu độ nơi thực tại Thập Giá và Phục Sinh trong thực tế cuộc sống thường nhật, hầu qua đó có thể cảm nếm và đi vào chiều sâu ư nghĩa của nội dung đức tin? Nhưng trước hết, Thập Giá và Phục Sinh được biểu lộ cụ thể thế nào trong thực trạng cuộc sống?
Rơ ràng chúng ta không nên đồng hóa cách ngây thơ khi coi mọi thách đố, khó khăn gặp phải trên đường đời đều mang năng lực chữa trị, cũng như những vui mừng thành công có được như hiển dương sự chiến thắng của điều thiện trên điều ác. Bởi vấn đề không chỉ ở chỗ, một đàng phải xác định xem : những điều ta gặp phải hay trạng thái ta trải qua, có bắt nguồn từ hoàn cảnh khách quan với chiều hướng tốt đẹp hay không và trong mức độ nào, hay ngược lại có căn nguyên tiêu cực xa hoặc gần, do bởi tính toán chủ quan ích kỷ nơi bản thân nhắm đạt mục đích nào đó, khoác vào chúng dáng vẻ tích cực h́nh thức để che đậy đi thực chất bên trong mà có khi như nguyên nhân gián tiếp dần dần đẩy đưa tới sự dữ. Và đàng khác, ta cũng không thể đánh đồng một hiện trạng bất công hay niềm vui nhỏ nhoi nào đó, như thể chúng có giá trị tự tại như điều kiện bắt buộc phải có, qua đó biểu lộ và chứa đựng năng lực làm biến đổi cuộc đời.
Một h́nh ảnh cụ thể: chẳng hạn khi ta bôi đen thực trạng bằng ư hướng với cái nh́n chủ quan đen tối của ta, hay khi tô hồng tô thắm thực tại bằng cái nh́n chủ quan lạc quan thái quá, dầu nhắm mục đích nào chăng nữa, cũng luôn có nguy cơ bóp méo thực trạng từ bản chất, và điều này phản ánh một mức độ nhất định thái độ thiếu thiện chí nơi tâm hồn khi không chân thành nói lên sự thật. Vậy kết quả sau đó ta nhận được sẽ không ích lợi ǵ, nếu nó không mở mắt cho ta thấy được sự sai trái, lẫn đủ mạnh đẩy ta tới quyết tâm cải thiện lối sống, cũng như mang lại một lợi ích chân thực nào đó cho cuộc sống tha nhân. Vậy ở đây vấn đề Thập Giá, hiểu cách rộng răi như gánh nặng và thách đố gặp phải trên đường đời, có thể phân biệt ra nhiều phương diện, tùy theo mức độ cùng với ư hướng bên trong, tạo nên ư nghĩa cho việc xây đắp cuộc sống.
Trước hết là những gánh nặng hay hoàn cảnh đen tối ta không muốn có, cũng không do ta gây nên, nhưng do khách quan đưa lại. Chẳng hạn một tai họa đột nhiên ập xuống. Dưới con mắt của người vô thần, hẳn đây là một bất hạnh lớn trong đời, nhưng trong nhăn quan niềm tin với thái độ vui vẻ đón nhận, người Kitô hữu thường coi như một cơ hội thanh luyện và thách đố Chúa yêu thương ban tặng, nhằm giúp họ trưởng thành và lớn lên về đường nhân đức như vàng thử lửa. Trong chiều hướng này, người ta sẽ cảm nhận được niềm vui trong thử thách, bởi xác tín và vui vẻ đón nhận thách đố như cơ may được làm theo và cộng tác vào chương tŕnh của Thiên Chúa. Vậy gánh nặng và thách đố như một thực tại khách quan không v́ thế mà biến mất, cùng với những hi sinh lao nhọc, nhưng chủ quan trong đức tin th́ đó lại là hồng ân, nên như một khởi điểm hay sức bật mới đưa lại một bước tiến hay biến đổi nào đó cho đời sống tâm linh, cũng như qua đó làm phong phú hóa và thay đổi cuộc đời. Chính trong chừng mực này, cảm nghiệm người ta trải qua trong thử thách, mở ra ư nghĩa ngày càng rơ nét về sức năng cứu độ của Thập Giá và Phục Sinh. Nói cách khác, đó là kinh nghiệm được thông phần cách nào đó vào Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Giêsu. Kinh nghiệm về hai chiều kích này có khi vừa kế tiếp có lúc vừa đồng thời, tùy theo mức độ lớn dần trong cảm nghiệm người ta trải qua, tùy thuộc tính đương nhiên khi đêm đen tan biến th́ b́nh minh ló rạng hoặc món quà “ngẫu nhiên” không thể biết trước xuất phát từ t́nh thương nhưng không của Thiên Chúa.
Tiếng kêu của Đức Giêsu trên Thập Giá: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi Con”(Mt 27,46) biểu lộ một kinh nghiệm khổ đau tột cùng về gánh nặng Thập Giá, nghĩa là kinh nghiệm về sự trống vắng và hoàn toàn biến mất điểm tựa của cuộc đời về một niềm vui hay ủi an nào đó trong viễn tượng Phục Sinh. Trong kinh nghiệm này, Thiên Chúa như không c̣n hiện diện, Ngài có vẻ ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi thống khổ của con ḿnh. Có người cho rằng, đây là giây phút Chúa Giêsu đang kinh qua cảm nghiệm về bộ mặt tăm tối của hỏa ngục, và hơn thế, nó cho thấy trong nội tại đời sống Ba Ngôi xảy ra sự việc: chính Thiên Chúa Cha đă bỏ rơi con yêu dấu của ḿnh.([1])
Dù đây là một quan niệm có phần quá đáng, v́ nó diễn tả một Thiên Chúa với khuôn mặt thật khắc nghiệt và lạnh lùng, nhưng cũng nói lên phần nào sự tương hợp cái kinh nghiệm về Thập Giá của những Chứng Nhân Tin Mừng qua suốt ḍng lịch sử Hội Thánh, trong hoàn cảnh gặp những thách đố nặng nề của cuộc sống và trên đường thực thi sứ mạng. Đó là hoàn cảnh như phải đối diện với vực thẳm mở rộng trước mắt, mà không thấy bóng dáng tốt đẹp tương lai đâu. Trong t́nh cảnh này, cái neo duy nhất con người c̣n có thể bám víu để sống c̣n và vượt lên những giông tố gào thét của biển cả, chỉ có thể là sự tín thác duy nhất vào Thiên Chúa theo gương Đức Giêsu xưa : “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha”(Lc 23,46).
Tôi tớ Chúa, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, đă cảm nhận cách sâu xa về điều này trong thời gian 13 năm ở tù. Ngài chia sẻ với chúng ta như sau : “ Chúa đă cho phép tôi cảm nhận tất cả sự yếu đuối và mỏng gịn của thể xác cũng như tinh thần của tôi. Trong tù thời gian chậm chạp, đặc biệt trong thời gian biệt giam. Các bạn hăy cứ tưởng tượng một tuần, một tháng, hai tháng trong thinh lặng … Thời gian dài kinh khủng. Nhưng khi trở thành năm chúng trở thành vĩnh cửu. Có những ngày tôi bị kiệt lực v́ mệt mỏi, bệnh tật, một kinh tôi cũng không đọc nổi! Nhưng cũng đúng thật là người ta có thể học hỏi nhiều về cầu nguyện, về tinh thần cầu nguyện tinh tuyền ngay khi phải khổ đau v́ không thể cầu nguyện, v́ yếu nhược thể xác, v́ không thể cầm trí, v́ sự khô khan nguội lạnh, cảm thấy Thiên Chúa bỏ rơi và sống xa Ngài tới độ không thể nào nói lên được lời nào với Ngài.”([2])
Rơ ràng trong hoàn cảnh đen tối trên đây, cái nh́n của thế gian phải rơi vào bế tắc không lối thoát và dẫn tới tuyệt vọng, nhưng trong ánh sáng đức tin và niềm hy vọng Kitô giáo, đó là thời gian tôi luyện hữu hiệu cho đức tin và minh chứng cho t́nh yêu. Nhờ sống liên lỉ trong t́nh yêu và phó thác, Đức Hồng Y “sau khi được tự do, trở nên một chứng nhân hy vọng cho mọi người trên toàn thế giới, chứng nhân của niềm hy vọng cao cả không tàn lụi, ngay cả trong đêm tối của cô đơn.”([3]) Như thế, chính trong mức đo rộng mở của con tim và tín thác, gánh nặng không c̣n đơn thuần là gánh nặng nhưng đă trở thành Thập Giá, nghĩa là gánh nặng có năng lực lẫn công hiệu chữa trị và nâng cao, nó vừa mở ra viễn tượng về niềm hy vọng Phục Sinh, vừa kéo niềm hy vọng này vào trong hiện tại, chuyển hóa hiện tại từ một t́nh cảnh bi đát và đen tối, trở nên nơi chốn cần thiết cho bộ mặt đặc thù của niềm tin Kitô hiển hiện.
Chính trong chừng mực này, Thập Giá và Phục Sinh cùng hiện hữu đồng thời và thấm nhập vào nhau như hai mặt không thể tách rời, cấu tạo nên thực tại duy nhất của niềm tin và hy vọng Kitô giáo : không thể có Thập Giá mà không có Phục Sinh, không thể có Phục Sinh nằm ngoài và vắng bóng Thậpgiá. Thập Giá hẳn vẫn c̣n là gánh nặng, nhưng gánh nặng này tạo nên sự êm ái và khơi dậy niềm vui Phục Sinh, khi mang lại sự phấn khởi và thúc đẩy Kitô hữu tự do đi vào hành động hy sinh và dâng hiến; c̣n Phục Sinh một khi hiển hiện ra trong niềm vui dâng hiến, lại biến thành động lực và sức mạnh cho người Kitô hữu vui tươi đón nhận những thách đố và gánh nặng có sức thánh hóa trong cuộc đời.
Bây giờ chúng ta đề cập tới loại gánh nặng và thách đố thứ hai tiêu biểu gặp phải trong đời sống Kitô hữu, nhưng chỉ biểu lộ cách rơ ràng hơn nơi một bộ phận tín hữu. Gánh nặng và thách đố này không phải do khách quan áp đặt hay do tự ư, hoặc trực tiếp hay gián tiếp gây ra, mà do chính chủ thể tự nguyện tiếp nhận rồi đưa ḿnh vào. Chúng ta nên hướng sự chú ư đến những chứng nhân quảng đại phục vụ trong các trại phong, các cô nhi viện, các công việc thiện nguyện khác nhau hay các hành động anh dũng hi sinh bản thân v́ Tin Mừng. Xét phương diện tâm lư của người tự do tiếp nhận, bản chất gánh nặng và thách đố họ đón nhận hẳn không phải thứ Thập giá tạo nên sự cay đắng và bất hạnh cách khách quan, v́ gánh nặng và thách đố này không do ai hay do hoàn cảnh bất thường đổ ập trên họ ngoài ư muốn, mà nó có là bởi họ vui tươi đảm nhận vào cuộc đời ḿnh v́ ḷng yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân.
Chính trong thái độ vui tươi phục vụ với hành động hy sinh tuy âm thầm nhưng phi thường này, gánh nặng và thách đố không những mở ra không gian của niềm vui phục vụ và xác tín xây đắp nên ư nghĩa và mục đích cuộc đời, mà c̣n qua cuộc đời quên ḿnh và cho đi, tạo thuận lợi cho ư nghĩa cứu độ của Thập Giá và Phục Sinh có thể rộng mở trước mắt, rồi đi vào cuộc sống của những con người đang có hoàn cảnh đặc biệt, cần đến sự yêu thương và nâng đỡ mà nếu không có, họ sẽ gặp khó khăn trong việc nhận ra và lănh hội. Rơ ràng ư nghĩa cứu độ này, không đơn thuần dừng lại nơi một cảm nghiệm hay xúc động mau qua về sự giải thoát nơi những trợ giúp khách quan, nhưng sâu xa hơn qua chính sự trợ giúp này, họ nhận ra h́nh ảnh của một Thiên Chúa Cứu Độ: qua những con người cụ thể với hành động hiến thân của họ, Thiên Chúa đang giang tay ôm lấy cuộc đời tôi, đang thương tôi, đang hi sinh cho tôi, đang vác Thập Giá cùng tôi, đang cứu chữa tôi và Ngài sẽ măi măi hành động như vậy v́ tôi.
Sự cứu độ như thế trước hết không đến từ những trợ giúp đơn thuần bên ngoài, dù đầy đủ đến đâu đi nữa, nhưng đến từ một cảm nghiệm về t́nh yêu: “Khi một người cảm nghiệm được trong cuộc sống một t́nh yêu cao cả, đó là thời điểm “cứu độ”, là thời điểm mang lại một ư nghĩa mới cho cuộc đời.”([4]) Chính trong giây phút cảm nghiệm được t́nh yêu động chạm tới như thế, gánh nặng và thách đố trong đời sống Kitô hữu không c̣n là chướng ngại đẩy đưa cuộc đời rơi vào bế tắc và đi tới tuyệt vọng, nhưng trở nên cơ hội lẫn phương thế thánh hóa cuộc sống, và mở ra không gian hữu hiệu cho t́nh yêu cứu độ tỏ hiện. Chính trong chừng mực này, cuộc sống hiện tại khi được t́nh yêu linh động hóa, sẽ vừa mang dấu chứng hi sinh của Thập Giá bởi bản chất hiến thân, vừa phản chiếu sự biến h́nh đổi dạng giống Chúa xưa trên núi (x. Mt 17,1-8) như báo trước điểm đến tṛn đầy của mầu nhiệm Phục Sinh tất yếu trở thành hiện thực. Như thế, cả người tự do tiếp nhận rồi đưa ḿnh vào gánh nặng của Thập Giá, lẫn người đang đương đầu trong hoàn cảnh đen tối khách quan, đều đang được Thập Giá và Phục Sinh chiếm hữu, thấm nhập, biến đổi cuộc đời họ thành bức tranh phản chiếu về con đường vượt qua Đức Kitô đă đi, để đem Thiên Chúa đến với con người và đưa con người về cùng Thiên Chúa.
Vậy nên Thập Giá và Phục Sinh dù mang bản chất khác biệt, nhưng không phải hai thực tại hoàn toàn tách biệt, đối lập nhau, đứng kề nhau mà không liên quan ǵ với nhau, trái lại, trong thực tại này đă hàm chứa thực tại kia và cả hai thẩm thấu vào nhau để cùng hiện hữu. Trong Thập Giá mở ra niềm vui của sự dâng hiến và như vậy nằm trong không gian của thực tại Phục Sinh; trong niềm vui Phục Sinh, sức mạnh soi sáng và sự nâng đỡ nó mang lại, thúc đẩy con người không ngừng ngẩng cao đầu và vươn lên măi trên hành tŕnh đi vào thách đố của Thập Giá. Đây là mối tương quan biện chứng luôn măi tái diễn trong suốt cuộc đời tín hữu Kitô, kết thành đời sống đức tin và hi vọng Kitô giáo. Không thể có niềm vui Phục Sinh hay sự giải thoát tuyệt nhiên từ trời rớt xuống, mà trước đó không phải không băng qua thung lũng của khổ đau và nước mắt với tiến tŕnh thanh luyện (x. Mc 13,13; Lc 8,15), cũng không thể nhận ra ư nghĩa cứu độ và đủ sức đi vào thách đố của Thập Giá, nếu không thể dự cảm phần nào và tín thác vào Chúa với xác tín: niềm vui trọn vẹn của Phục Sinh Chúa ban tất sẽ chiếm hữu được với sự nâng đỡ của Ngài (x. Lc 9,28-36).
Những điều này xét theo phương diện nào đó, cũng đúng ngay cả trong lănh vực thuần túy trần tục. Không thể chinh phục được mục tiêu hay thành công nào đó, nếu trước hết không cất bước lên đường với quyết tâm đối diện với thách đố cùng mồ hôi và nước mắt. Và thường khi thách đố càng lớn, hiểm nguy càng chồng chất, kết quả sau cùng đạt được sẽ càng giá trị, hạnh phúc ḿnh chiếm hữu sẽ càng viên măn. Nhưng trong đời sống đức tin, cứu cánh của người tín hữu không hệ tại việc chinh phục được những thành công, hay cố gắng làm tan biến đi những khổ đau và thách đố, cứu cánh của người tín hữu luôn luôn (với sự trợ giúp chính yếu từ Chúa) là được trở nên đồng h́nh đồng dạng với Đức Kitô (x. Rm 8,29) để nhờ kết hiệp với Ngài, ta cùng được sống lại (x.Rm 6,5; 8,17) và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa (x. 2Pr 1,4). Những điều khác nếu có được cũng chỉ là hệ quả đến sau và tùy thuộc vào cứu cánh này mà thôi. Đây chính là ư nghĩa cứu độ của Thập Giá và Phục Sinh trong niềm tin Giáo Hội, và thể hiện cụ thể nơi từng người tín hữu trong đời sống thực tế. Niềm tin này làm nên chính bản chất sống c̣n của Giáo Hội và nuôi dưỡng đời sống Giáo Hội qua bao thế kỷ và sẽ c̣n kéo dài như vậy măi cho tới mút cùng của lịch sử, cũng như qua phía bên kia của lịch sử này.
Tới đây chúng ta nên hướng sự chú tâm vào h́nh ảnh đầy sức đánh động qua câu nói của Chúa Giêsu : “ Giờ đây Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người”( Ga13,31 ). Chúa Giêsu xác định điều này trong t́nh cảnh Ngài sắp bước vào cuộc khổ nạn theo chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa. Vậy nên câu nói biểu lộ như sự tóm kết cách cô đọng và sắc bén về thực tại trọn vẹn Thập Giá và Phục Sinh Ngài sắp trải qua. Qủa thực, đối với Chúa Giêsu, giây phút trên đỉnh cao Thập Giá cũng chính là giây phút mầu nhiệm Phục Sinh trở thành hiện thực trong kích thước sâu xa nhất của nó : “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu”(Ga 8,28).
Như thế, ở đây thực tại Thập Giá và Phục Sinh đă hiện hữu cùng lúc, cả hai cùng thấm nhập vào nhau đến độ không thể tách rời và loại trừ nhau. Càng đi vào chiều sâu của đời sống đức tin và hy vọng Kitô giáo, người tín hữu hẳn ngày càng cảm nghiệm và xác tín một điều : trong viễn tượng cứu độ, từng thời khắc trong cuộc đời ḿnh cũng là từng thời khắc đi vào thực tại Thập Giá và Phục Sinh. Đó chính là hành tŕnh liên lỉ đi trên con đường Đức Kitô đă đi để đến cùng Thiên Chúa, ngơ hầu nhờ đến cùng Thiên Chúa mà có thể đem Ngài đến cho con người.
Do vậy thời gian người môn đệ Đức Kitô sống và trải nghiệm, không c̣n là thời gian đơn thuần nữa, nhưng chính là thời gian đă được thánh hiến cho Thiên Chúa, nghĩa là thời gian quy hướng về và phục vụ cho chương tŕnh cứu độ và sống cho Ngài. Đây chính là ư nghĩa của đời sống Giáo Hội, ư nghĩa của niềm tin và hy vọng. Trong hoàn cảnh của một thế giới bên cạnh những ánh sáng, cũng đồng thời chất chứa biết bao bóng tối và thách đố như ngày hôm nay, ư nghĩa soi sáng của Thập Giá và Phục Sinh trong đời sống Giáo Hội và nơi cuộc sống cụ thể của từng tín hữu, càng trở nên quan trọng và khẩn thiết hơn bao giờ hết. “Thế giới đang đợi chứng tá của t́nh yêu Kitô, chứng tá mà đức tin gợi ra cho chúng ta.”([5])
[1] Đây là quan điểm của nhà thần học Jusrgen Moltmann, theo Phan Đ́nh Cho trong bài viết Đức Giêsu Trong Dung Mạo Châu Á, Hợp Tuyển Thần Học số 23, năm thứ IX (1999),tập phổ biến Thần Học, phát hành không định kỳ,bài viết do Nguyễn Thế Minh dịch, tr 46.
[2] Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Chứng Nhân Hy Vọng (các bài giảng tĩnh tâm cho Giáo Triều Rôma),lm.Trần Đức Anh và lm.Hoàng Minh Thắng dịch, Cộng Đoàn Đức Mẹ La Vang ấn hành năm 2000,Bài Suy Niệm Thứ Mười Ba, tr 183.
[3] Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Thông điệp Về Niềm Hy Vọng Kitô Giáo (Spe Salvi), số 32.
[4] Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, Tđ. Spe Salvi, số 26.
[5] Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, bức thư giới thiệu về thông điệp “Thiên Chúa là T́nh Yêu”(Deus Caritas Est) gởi cho tuần báo “Gia đ́nh Kitô”,trích lại trong phần giới thiệu thông điệp “Thiên Chúa là T́nh Yêu”,bản dịch của UBGLDT năm 2006.