


Tên thật là Joseph Ratzinger, sinh ở Marktl am Inn (trên sông Inn), nước Đức, ngày 16 tháng Tư 1927, Thứ Bẩy Tuần Thánh, và là người đầu tiên được rửa tội trong Nước Phục Sinh vừa được làm phép trong Đêm Phục Sinh năm đó. Cha của ngài, một cảnh sát viên, xuất xứ từ một gia đ́nh nông dân ở Hạ Baveria, và thường xuyên bị thuyên chuyển. Vào năm 1929, gia đ́nh ngài di chuyển đến Tittmoning, một thành phố nhỏ ở bên sông Salzach, cạnh biên giới nước Áo.
Vào năm 1932 v́ cha ngài lớn tiếng chỉ trích Đức Quốc Xă nên gia đ́nh phải di cư đến Auschau am Inn, dưới rặng núi Alps. Cha ngài về hưu năm 1937, và cả gia đ́nh di chuyển đến Hufschlag, ngoại vi của Traunstein. Ở đây Joseph bắt đầu học cổ ngữ ở trường trung học địa phương. Vào năm 1939, ngài vào tiểu chủng viện ở Traunstein, bước đầu tiên trong chức linh mục.
Thế Chiến II bùng nổ khiến việc học của Joseph bị gián đoạn, cho đến năm 1945, khi ngài tái gia nhập chủng viện với người em là Georg. Năm 1947, ngài vào trường Herzogliches Georgianum, một trường thần học có liên hệ với Đại Học Munich. Sau cùng, vào ngày 19 tháng Sáu 1951, cả hai anh em được phong linh mục bởi Đức Hồng Y Faulhaber, ở Vương Cung Thánh Đường Freising, vào ngày lễ Thánh Phêrô và Phaolô, ngày 29 tháng 6 năm 1951. Năm 1953 Ngài đậu Tiến Sĩ Thần Học, với luận án mang nhan đề " Giáo dân và Giáo hội trong học thuyết Augustine về Giáo Hội.". Sau đó được mời dậy Thần Học Tín Lư tại trường cao đẳng Thần Học Freising. Từ năm 1959 đến 1969 tại Đại Học Bonn. Từ năm 1963 đến 1966 tại Đại Học Munster. Từ năm 1966 đến 1969 tại Đại Học Tubinga, ngài giữ chức phó chủ tịch của phân khoa thần học tín lư tại Đại Học Tubingen. Năm 1969, Ngài chính thức trở thành Giáo sư Thần Học Tín Lư của Đại học Regensburg, và cũng tại đây Ngài được chọn là khoa trưởng và phó viện trưởng. Từ 1962-1965, ngài có mặt trong bốn khóa họp của Công Đồng Vatican II với tư cách một peritus, trưởng cố vấn thần học cho Đức Hồng Y Josef Frings của Koln (Cologne), nước Đức, khi ngài tṛn 35 tuổi. Ngài cũng là một thành viên của Ủy Ban Thần Học Quốc Tế của Ṭa Thánh từ 1969 đến 1980.
Năm 1972, cùng với các thần học gia là Hans Urs von Balthasar, Henry De Lubac và những người khác, ngài phát hành tạp chí thần học Công Giáo Communio, một tờ báo phê b́nh về thần học và văn hóa Công Giáo được phát hành ba tháng một lần. Người ta nói rằng, tờ báo này được thực hiện để phản ứng với những dẫn giải sai lạc về Công Đồng Vatican II của các thần học gia Karl Rahner, Hans Kung và những người khác.
Vào ngày 24 tháng Ba 1977, Cha Ratzinger được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI chọn làm Tổng Giám Mục của Munich và Freising. Ngài được tấn phong giám mục ngày 28 tháng Năm 1977, lấy phương châm là "Cộng Sự Viên trong Chân Lư," là một câu trong thư 3 của Gioan 1:8. Vào ngày 27 tháng Sáu 1977, Đức Phaolô VI nâng ngài lên Hồng Y với thánh đường tước hiệu nhà thờ Đức Mẹ An Ủi ở Tiburtina. Năm 1980, ngài được Đức Gioan Phaolô II đặt làm chủ tọa Thượng Hội Đồng đặc biệt về Giáo Dân.
Vào ngày 25 tháng Mười Một 1981, ngài được bổ nhiệm làm Tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lư Đức Tin, đồng thời trở nên Chủ Tịch Ủy Ban Kinh Thánh của Ṭa Thánh và Ủy Ban Thần Học Quốc Tế.
Đức Hồng Y Ratzinger là Chủ Tịch của Ủy Ban Chuẩn Bị sách Giáo Lư Công Giáo, và sau sáu năm làm việc (1986-92) ngài đă tŕnh cuốn Giáo Lư mới lên Đức Thánh Cha. Vào ngày 5 tháng Tư 1993, ngài được chuyển sang chức Hồng Y Đẳng Giám Mục, với ṭa Velletri-Signi ở ngoại ô Rôma. Vào ngày 9 tháng Mười Một năm 1998, ngài được chọn làm Phó Niên Trưởng Hồng Y Đoàn và vào ngày 30 tháng Mười Một năm 2002, Đức Thánh Cha đă chuẩn nhận việc ngài được chọn làm Niên Trưởng Hồng Y Đoàn với danh hiệu của Ṭa Ostia ngoại ô Rôma, cộng thêm với ṭa Velletri-Segni.
Là Niên Trưởng Hồng Y Đoàn ngài chủ tọa các cuộc thảo luận của Hồng Y Đoàn khi Ṭa Thánh trống ngôi sau cái chết của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vào ngày 2 tháng Tư năm 2005.
Ngày 19 tháng 4 vừa qua, hơn 1 tỷ người Công Giáo và toàn thế giới đă hân hoan chào đón Đức Tân Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI. Ngài đă được mật nghị Hồng Y bầu chọn lên ngôi Giáo Hoàng, kế vị Thánh Phêrô và là Đại Diện Chúa Kitô dưới trần gian để cai quản Giáo Hội. Ảnh hưởng của ngôi Giáo Hoàng không những chỉ riêng đối với các tín đồ Công Giáo mà c̣n lan rộng qua nhiều phương diện trên toàn thế giới.
Vào
lúc 5giờ 50 chiều giờ Rôma, thứ Ba ngày 19 tháng 4 năm 2005, khói trắng đă bốc
lên từ ống khói của điện Sistine. Cùng lúc chuông các thánh đường ở Rôma đă vang
lên những tiếng vui mừng. Mọi người đều hân hoan và nao nức đón xem vị Giáo
Hoàng mới sẽ là ai. Linh mục Sylvester Herman, bào đệ của Tân Giáo Hoàng cũng có
mặt trong số những khách hành hương tại quảng trường Thánh Phêrô lúc bấy giờ.
6giờ 43 phút, Đức Hồng Y Jorge Arturo Medina Estevez của Chilê đă xuất hiện
trước ban công và tuyên bố với mọi người là: Chúng ta đă có Đức Giáo Hoàng.
Đó là Đức Hồng Y Joseph Ratzinger. Ngài lấy tên là Benedict XVI.
6giờ
48 phút, Đức Bênêđíctô XVI với thánh giá dẫn đầu, tiến ra chào mừng mọi người,
và ban phép lành Tông Đồ Urbi et Orbi - cho thành Rôma và toàn thế giới. Và Chúa
Nhật 24 tháng 4 năm 2005, Ngài chính thức đăng quang Giáo Hoàng.
Đức Hồng Y Josepth Ratzinger đă được mật nghị Hồng Y gồm 115 vị đến từ 52 quốc gia trên thế giới bầu chọn làm Đấng kế vị Đức Gioan Phaolô II. Ngài là vị Giáo Hoàng thứ 2 sau Đức Gioan Phaolô II không phải là người Ư suốt chiều dài gần 500 năm của lịch sử Giáo Hội. Ngài cũng là vị Giáo Hoàng thứ 6 người Đức kể từ thế kỷ thứ 11. Một điều khác cũng làm mọi người hết sức ngạc nhiên, là tuy rất thân thiết và đồng nhất quan điểm với Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, nhưng Ngài lại không chọn tước hiệu Gioan Phaolô mà là Bênêđíctô.
Đức Bênêdictô XVI là vị giáo hoàng xuất thân từ Đức sau gần 950 năm.