CHIỀU KÍCH NHÂN HỌC TRONG THÔNG ĐIỆP SPE SALVI
Lm. Giuse Nguyễn Văn Am, SDB
Nhập đề
Ai trong chúng ta mà không biết Hồng Y Joseph Ratzinger đă được mang những tước hiệu không mấy đẹp đẽ trước khi lên ngôi giáo hoàng. Truyền thông đă không ngần ngại gọi ngài là “đao phủ của các nhà thần học cấp tiến,” là đàn áp tư tưởng, là người không đối thoại. Và giới thần học dường như nhíu mày khi nghe tin ngài đắc cử Giáo hoàng. Không ít kẻ đă phản đối như trên đồi của Berkeley. Với họ, Kitô giáo hôm nay đă đi trở ngược lại thời trước Vatican II và biến ḿnh thành một vật của quá khứ, không hợp thời cho xă hội nhân loại tiến bộ nữa.
Thế nhưng, khi vừa lên ngôi, ngài đă mang lại nhiều trực giác ngôn sứ phù hợp với Giáo hội trong thế giới ngày nay. Ngài đă tuyên bố rơ rằng ḿnh, với tư cách là môn đệ Đức Kitô trong tư cách kế vị Phêrô, sẽ chẳng có một chương tŕnh nào khác ngoài chương tŕnh đă được đặt ra trong Đức Giêsu, là Thiên Chúa và và là Người, là Tặng Phẩm Duy Nhất Thiên Chúa muốn ban cho con người v́ hạnh phúc viên măn và toàn diện của con người, và cả con người hôm nay nữa (x. diễn từ nhận chức Giáo hoàng). Và rồi một trong những bữa điểm tâm sáng của ngài sau khi nhận chức lại là cuộc tṛ chuyện thân t́nh với thần học gia Hans Kung đă bị truất chức giáo sư thần học trong giới công giáo, và đă từng không ưa ngài, nếu không nói là hằn học với ngài. Ngài cũng chẳng ngại ngùng ǵ để nói chuyện với nhóm được mệnh danh là của Đức Giáo hoàng Piô X thuộc Giám mục Lefebvre. Rồi thế giới lại ngạc nhiên khi ngài bàn đến một vấn đề rất thời sự của con người là t́nh yêu mà trong đó, ngài dám bàn đến dưới cả góc cạnh nhân linh như một người có lư trí. Thông điệp đă để lại nhiều ấn tượng có tính ‘cách mạng’[1]. Rồi trước những bạn trẻ trong ngày Giới trẻ thế giới, ngài cũng không ngần ngại hướng dẫn họ đến một đức tin có suy nghĩ. Riêng với những nhà lănh đạo trong giới trí thức, ngài đă dám thẳng thắn tŕnh bày tại đại học Regensburg về một đề tài lư trí và đức tin, lư trí và Thiên Chúa với một trích dẫn mà có lẽ không ai dám làm khi trưng dẫn những lời của một hoàng đế liên quan đến Hồi giáo. Và đang khi thế giới tưởng rằng một thông điệp thứ hai sẽ ra đời bàn về công bằng th́ ngài lại xuất bản thông điệp về niềm hy vọng; và lại một lần nữa, ngài không ngần ngại đối thoại với những trào lưu mệnh danh là nhân bản của hôm nay, cũng từ góc cạnh của một con người có lư trí. Có lẽ khi con người đương thời muốn tôn vinh lư trí con người lên như thiên chúa, Thánh Thần đă ban cho Giáo hội và con người một tặng phẩm hợp thời để hướng dẫn lư trí ấy về đúng cội nguồn của ḿnh, cội nguồn làm cho họ được tôn vinh mà không lấy đi bất kỳ cái thiện hảo nào của họ.
Thử đi t́m một Phương Pháp Luận trong Thông điệp
Vatican II trong Gaudium et Spes (GS) đă suy tư liên kết với những dấu chỉ thời đại[2] mà không hề bỏ qua hay coi thường những đau khổ, âu lo, thao thức của xă hội con người, đúng hơn, của con người, v́ không bao giờ có một xă hội chung chung, ở trên thế giới linh niệm rớt xuống.[3] Thế nhưng, khi Giáo hội công giáo công bố cuốn Giáo lư của ḿnh, mà Đức Hồng y Ratzinger là một trong những người biên soạn chủ chốt, với một cấu trúc theo kinh Tin kính, có những thần học gia phê b́nh rằng Hồng y này ưa chuộng phương pháp làm thần học từ bên trên, và như vậy không đem lại những giải đáp thích hợp cho con người ngày nay.[4] Một số khác cho rằng đó là một thứ đức tin độc tài, áp đặt từ bên trên, huỷ đi lư trí và tự do của con người, không có lợi cho đối thoại tôn giáo.[5] Tuy nhiên, có lẽ ta thấy rằng nhận xét trên mới chỉ đúng một phần. Ta có thể bắt gặp một điều ǵ sâu xa hơn nữa chăng?
Thật ra, trong chính cuốn Giáo lư ấy, chúng ta bắt gặp ở những lời xác quyết đầu tiên lại là về một con người có khả năng khát khao Thiên Chúa. Con người chỉ măn nguyện khi đạt tới Chân lư và Sự thiện nhờ lư trí và t́nh yêu của ḿnh.[6] Chính GS đề cập đến một nhân vị với lư trí và tự do giữa những thực tại giới hạn của con người nơi xă hội, văn hoá, và tôn giáo, như đau khổ, sự chết và tội lỗi. Nếu Thiên Chúa có làm một kế hoạch nào cho con người th́ kế hoạch đó gắn liền với lịch sử của những con người “như một cây sậy biết tư duy”, theo lối nói của Pascal. Thực tại đó không nổi lên sao được khi ta đọc thấy những lời sau đây: “Đối với tôi, cầu nguyện là một đà lực của tâm hồn, là một khoé nh́n đơn sơ ngước lên trời, là tiếng kêu nhận biết (tri ân) và yêu thương từ giữa ḷng thử thách cũng như giữa niềm vui.” (số 1558).
Những nhận xét trên liệu không cho phép ta có thể nói được rằng phương pháp luận khởi từ những thực tại nhân linh mà Vatican II khơi mào đă được Đức Bênêđictô tiếp thu chuyển thành được nhập thể vào kinh nghiệm nhân linh của những người “ở đây và lúc này” hay sao? Những kinh nghiệm về tự do, đau khổ, sự chết, bất công được bày ra cách linh hoạt trước mắt độc giả qua ng̣i bút của Đức Bênêđictô XVI. Ngài cũng muốn nh́n chúng như một người có lư trí, v́ biết rơ địa vị cao cả vô ngần của con người. Ngài cho thấy để tự ḿnh, con người bị những trạng huống giới hạn ấy đè bẹp như thế nào; nhưng với một con người khao khát yêu thương trong chân lư, chúng lại khai mở cho thông giao và hiệp thông như thế nào và càng hơn nữa cho một tín hữu đạt đến sự thống nhất giữa đức tin và lư trí. Đồng thời, Đức Giáo hoàng cũng đối thoại với các trào lưu tư tưởng của nhân loại bắt đầu từ những kinh nghiệm giới hạn ấy để đưa ra điều mà ngài gọi là “sự vô tri thông thái” (số 11), tức “ta biết rằng phải có một điều ǵ đó mà dù không biết, nhưng lại cảm thấy được thúc đẩy hướng về đó” (số 11). Theo một nghĩa nào đó, lối đường của triết thuyết Tôma được canh tân bằng những trực giác mới. Con người thoáng thấy một chân trời mới hơn những ǵ họ tiếp chạm và chịu đựng khi đi t́m lẽ sống nhân linh chân thật bởi lẽ nhân vị được dựng lên cho thông giao (x. Rahner, Hearer of the Lord; GS). Đặt những vấn đề tạo thành ư nghĩa đời sống nhân sinh quả là cách thức tiếp cận CHÂN LƯ mà Đức Bênêđictô dùng để đồng hành với con người trong thời hậu thời mới này. Thông điệp Deus caritas est khởi từ kinh nghiệm t́nh yêu, vừa mănh liệt vừa sáng tươi trong chân lư, đối thoại với eros bị ngộp trong đống bùn của cái gọi là những cuộc dâm đăng dưới chiêu bài tôn giáo. Kinh nghiệm đó cũng phê phán thứ t́nh yêu quá thiêng liêng hoặc quá vật chất, như của René Descartes hay Sigmund Freud. Nó cũng chẳng đồng ư với chủ nghĩa duy ích: chỉ nghĩ đến ḿnh mà thôi. Trước ư nghĩa chân thật của t́nh yêu, libido, tức cái cảm xúc “đến rồi đi” của bản năng hạ đẳng trở nên xấu hổ.
Chính v́ phương pháp luận này, hiếm có thông điệp nào lại nêu rơ danh tánh những triết gia như Socrates, Aristote, Nietszche, Marx, Schophenhauer. Đức Giáo hoàng không ngại đối thoại với họ như một con người có lư trí khao khát chân lư. Thông điệp Spe salvi cho thấy niềm hy vọng thực sự của một con người có lư trí đủ để thấy những lỗ hổng không thể chấp nhận được của một Enerst Bloch, của Karl Marx. Con người lư trí không thể “sống, cử động, và hiện hữu” một cách vô nghĩa, một cách giả tạo, trống rỗng, nô lệ (x. số 5-7), tức không có Thiên Chúa (x. Cv 20). Hy vọng chân chính và Thiên Chúa luôn đi đôi với nhau. Chính v́ thế, Đức Giáo hoàng viết:
“Tuy nhiên, ngay từ thuở sơ khai, cũng có những cuộc hoán cải trong giới quư tộc và trí thức, bởi v́ chính họ cũng đang sống “không có niềm hy vọng, không có Thiên Chúa trong thế gian này”. Huyền thoại đă mất đi sự khả tín; tôn giáo của chính quyền La mă đă bị giản lược thành một lễ nghi đơn thuần, được cử hành chu đáo, nhưng từ nay chỉ c̣n là một thứ “tôn giáo chính trị”. Thuyết duy lư triết học đă đóng khung các thần linh vào trong phạm trù phi thực tại. Thần linh được nh́n dưới nhiều h́nh thức khác nhau trong các sức mạnh của vũ trụ, nhưng một Thiên Chúa mà người ta có thể hướng ḷng cầu nguyện, th́ không hiện hữu” (SS 5).
Tiếng rên xiết của kiếp người không vang lên tới hư vô, nhưng tới Đấng mà chỉ ḿnh Ngài mới có thể nói “Ta Là” và nhờ đó, tiếng rên xiết có nghĩa. Rơ ràng, khi dám đặt những câu hỏi quan trọng làm cho cuộc sống thành nhân linh hơn măi, th́ ta nghiệm ra rằng ḿnh có thể chạm đến vĩnh cửu.[7]
Một Nhân học đúng đắn nh́n đau khổ trong hy vọng
Theo cách này, thông điệp Spe salvi đặt niềm hy vọng đối diện với bức màn đau khổ. Đau khổ như là tiếng nói chung của mọi người. Ai chưa một lần khổ, vỡ mộng hay ốm đau? Ai chưa một lần “rầu thúi ruột”; diễn đạt dân gian VN này minh chứng đau khổ đeo bám con người như h́nh với bóng.[8] Tôn giáo mạc khải cũng không ru ngủ đâu, như Feuerbach đă từng nghĩ, v́ nó xác quyết, “Mạnh khoẻ chăng là được tám mươi, mà phần lớn chỉ là đau khổ. Thấm thoát cuộc đời đă bay đi.” Bể khổ tràn lan đă khiến Đức Phật phải lao đao vất vả cũng là điều tràn ngập trên chính Đức Giêsu Kitô. Kinh nghiệm giới hạn mà triết hiện sinh lột trần không trừu tượng; thứ kinh nghiệm đó không có. Nó gắn liền với tôi, anh và mọi người, với những con người cụ thể như Josephine Bakhita, Vinh Sơn Liêm, v.v... Đau khổ có tha ai bao giờ? Thánh nhân ư? Theo thông điệp, các thánh bị đau khổ hơn bất kỳ một ai. Thánh Vinh Sơn Liêm cho thấy như ḿnh đă chạm tới hoả ngục. C̣n Josephine Bakhita bị bán như một đồ vật qua tới cả 8 ông chủ. Nguyễn văn Thuận bị cô đơn phủ ngập.
Thế nhưng khác với những người không có niềm hy vọng và sống trong bóng tối của hằn học và hận thù, họ chạm tới cơi vĩnh hằng, v́ bể khổ sự dữ không phải là chung cục. Soren Kierkegaard cho biết kinh sợ (Angst) đưa đến bước nhảy vọt của niềm tin. Gabriel Marcel trực giác về một t́nh yêu bất tử khi chạm trán cái chết. Husserl luôn nói cho chúng ta sự vật được tri giác trong một chân trời rộng lớn hơn chính nó. Con người huyền nhiệm vượt xa giới hạn của con người khoa học, toán học, nói tóm, của vấn đề. Chúng ta không thường nói con người không được dựng nên hay sinh ra cho đau khổ là ǵ. Với cung giọng vừa kinh thánh nhưng cũng không kém triết học, Đức Bênêđictô nói “khởi đầu đă có Lời”, “khởi đầu đă có t́nh yêu”.
Không phải những yếu tố vũ trụ, các qui luật vật chất, điều khiển thế giới và con người một cách quyết định, nhưng chính Thiên Chúa cá vị mới là Đấng điều hành các v́ sao, nghĩa là Đấng điều hành vũ trụ. Không phải những định luật vật chất và tiến hoá là thẩm quyền tối cao, nhưng là lư trí, ư chí, t́nh yêu – một ngôi vị. Nếu chúng ta biết Ngôi vị này và Ngôi vị này cũng biết chúng ta, th́ thực sự quyền lực khắc nghiệt của các yếu tố vật chất không c̣n là thẩm quyền tối hậu nữa... Cuộc sống không chỉ là sản phẩm đơn giản của những định luật và quan hệ nhân quả của vật chất, nhưng, trong mọi sự và đồng thời, vượt trên mọi sự, là một ư muốn cá vị, một Thần Trí, tự mạc khải như là T́nh Yêu, trong Đức Giêsu (SS 5).
Bản văn rơ ràng phê phán chủ thuyết tiến hoá và khoa học, dựa trên phẩm giá của con người, và mở ra lời xác quyết rằng T́nh Yêu sẽ chinh phục thế giới.
Như trên đă nói Đức Bênêđictô không ngừng tra hỏi; trong cảnh vực hiện sinh này, con người quả thực tra hỏi miết. Trong Spe salvi, ta gặp không dưới 16 lần tra hỏi. Thông điệp Deus caritas est cũng thế. Bài thuyết tŕnh của ngài tại đại học Regensburg âm vang câu hỏi về mối liên hệ giữa lư trí và đức tin. C̣n bài thuyết định lẽ ra được đọc trước toàn đại học La Sapienza lại khích lệ sinh viên phải tra hỏi về chân lư như thế nào. Vậy, nếu ngạc nhiên là bước đầu của triết học theo Aristote th́ nay được hiện thực bằng cách tra hỏi theo Đức Bênêđictô. Thao thức đă từng được các triết gia lớn như Descartes, Heidegger, Kant trong những vấn nạn cũng được tiếp nối nơi Đức Giáo hoàng này. Theo ngài, dám đặt câu hỏi về những ǵ quan trọng nhất của ḿnh quả là một cách hiện hữu đi t́m ư nghĩa tối hậu cho ḿnh.
Theo Pascal, đau khổ cho ta chạm đến vô biên.[9] Nếu thế, đúng là nó mở ra một trang mới cho cuộc đời con người có lư trí: phẩm giá con người lớn hơn thực tại đau khổ. Đau khổ của con người biết suy nghĩ nói lên con người vĩ đại như thế nào; đau khổ đưa con người vươn xa hơn thời khắc hiện tại (SS 5; 12). Nhưng thời khắc hiện tại có nghĩa là ǵ đây theo thông điệp? Kinh nghiệm đau khổ cho thấy một điều ǵ đó trường tồn, một cơ sở mới vững bền hơn những của cải vật chất mà ta thường quan tâm (x. SS 8). Kinh nghiệm ấy “giả thiết phải có cuộc xuất hành ra khỏi ngục tù của cái tôi.” (SS 14) Ở đấy, “những yếu tố cốt thiết trong mầu nhiệm con người được tỏ lộ”[10] Theo một nghĩa nào đó, “tri thức quan trọng nhất là tri thức về ngôi vị con người,” v́ chúng ta luôn bị cám dỗ giới hạn và đóng khung căn tính chúng ta vào những điều thấy được mà thôi.[11] Như thế, tin vào thời khắc hiện tại mà thôi cũng như đồng nghĩa với tin vào khoa học kỹ thuật, tin vào chính trị, tin vào vật chất. Lúc đó, chẳng sớm th́ muộn, tiến bộ sẽ lộ hiện ra bộ mặt hàm hồ của ḿnh v́ chẳng để ư được sự thật là “con người không bao giờ có thể được cứu chuộc đơn thuần từ bên ngoài” (SS 25). Thế nên, khát vọng t́m kiếm chân lư, tức vượt qua những ǵ thấy được, khả giác, lại “bẩm sinh nơi con người. Họ muốn biết điều quanh họ là ǵ. Họ muốn chân lư. Theo nghĩa này, chúng ta thấy rằng chủ trương tự hỏi về chính ḿnh là một thúc bách mà từ đó phát sinh các đại học,”[12] chứ không ngược lại. Vậy, “rơ ràng là chỉ có điều ǵ đó vô hạn mới thỏa măn con người, điều ǵ đó măi măi vượt xa những ǵ ta có thể đạt tới” (SS 30). “Bằng cách tra hỏi về chân lư, chúng ta trương rộng chân trời của lư tính chúng ta, chúng ta bắt đầu giải phóng lư trí khỏi những biên cương hạn hẹp cực độ vốn nhốt kín nó khi chúng ta coi chỉ điều ǵ có thể là đối tượng của thí nghiệm hay tính toán th́ mới là thuộc lư.”[13] Bởi lẽ “con người được tạo dựng nên cho một thực tại cao cả, cho chính Thiên Chúa, để được Thiên Chúa lấp đầy” (SS 33). Điều sâu xa nhất nơi con người là khát Thiên Chúa.
V́ thế, con người khoa học, homo faber, không là căn tính của con người (x. A. Einstein, bài viết về giáo dục, trong cuốn Giáo dục: vấn đề và giải đáp). Đúng hơn, họ dùng tất cả những thứ đó để nên người hơn, để hiện hữu nhân linh hơn. Bằng không, khoa học mất ư nghĩa, v́ giáo dục không nhằm tạo nên những cỗ máy. Bởi thế, “Khoa học không quyết định con người là ai, họ từ đâu đến và họ sẽ đi đâu.”[14] Con người luôn đứng xa hơn điều khoa học có thể nh́n và tri giác. Xác định như thế, ngài dám phê phán “niềm tin vào tiến bộ” mà Francis Bacon nêu lên trở thành sai lạc, ảo tưởng; nó đổi thành niềm tin vào hàm hồ, vào bóng tối. Với ông, niềm tin vào tiến bộ được tôn thần phong thánh sẽ đạt mức tột đỉnh ở Kant khi xác quyết chủ thuyết bất tri: con người không thể biết được ǵ ngoài lănh vực khoa học. Từ đó “đức tin bị hất cẳng sang một b́nh diện khác – b́nh diện của những chuyện thuần tuư riêng tư và thuộc về một thế giới khác – và trở thành không thích đáng với thế giới này” (SS 17). Kế hoạch của thời đại tân tiến (cận đại) là đây. (x. SS 17) Họ nghĩ và sống như thể không có Thiên Chúa hay không dành một chỗ nào cho Ngài.
“Tuy nhiên, những đột phá lớn lao của kỹ thuật và khoa học vốn đă cải thiện trạng huống của con người cách đáng kể vẫn để những t́m ṭi sâu nhất của con tâm hồn con người không được giải đáp, ... v́ chỉ viễn cảnh vĩnh cửu mới mang đến giá trị chân chính cho những biến cố lịch sử, nhất là cho mầu nhiệm của sự mỏng ḍn, đau khổ, và cái chết của con người.”[15]
Chính v́ thế điều quan trọng phải quan tâm là “minh giải, thiết định và đem ra thực hành những hướng dẫn quan trọng của luân lư trong xă hội, như vậy mới đảm bảo một sự kiên định xă hội-luân lư mà nếu không có chúng xă hội không thể hoàn thành những mục tiêu chính trị của ḿnh” v́ “con người không phải là một sản phẩm tiến hoá được biến đổi cách tồi tệ.”[16]
Như thế, “tiến bộ chỉ là chân chính nếu nó phục vụ cho nhân vị và nếu nhân vị lớn lên: không chỉ về diện năng lực kỹ thuật, song cả trong ư thức luân lư của họ.” Đánh mất điều này, con người hôm nay khác nào đi vào tự tử. Khi chỉ t́m hưởng thụ, con người chẳng mấy chốc sẽ cảm thấy đầy ứ, chán chường. Vấn đề lịch sử hôm nay nằm trong sự bất quân b́nh giữa sự phát triển cực kỳ mau lẹ của năng lực kỹ thuật và sự giảm thiểu ư thức luân lư. Con người đang mở cửa cho khoa hữu thể học về sự chán chường (ontology of boredom) là lẽ đương nhiên. Khi không được đâm rễ nơi nền tảng duy nhất và bất khả lay chuyển của hữu thể, con người thấy ḿnh làm mồi cho hư vô. Con người thấy ḿnh không có gốc rễ. Trong ánh sáng này, đào luyện nhân vị, lương tâm là phương cách chân thật, là ch́a khoá cho toàn vấn đề, v́ ở đó con người mới biết sự thật về chính ḿnh.[17] Theo nghĩa này, “Làm người ngày một hơn, như đích tới của giáo dục, nhất thiết đ̣i hỏi hai chiều kích: biết làm và biết ḿnh tức đào luyện tâm hồn. Hai điều này thực quan trọng, nhưng lại không được phép đảo lộn thứ tự. Điều trước, xă hội Âu Mỹ có nhiều đột phá. Nhưng nếu chỉ thế mà thôi, chúng ta bỗng thấy ḿnh đối diện với chiến tranh và bệnh dịch AIDS. Chỉ nhờ đào luyện tâm hồn nhân vị có chỗ quy chiếu và học được cách dùng kỹ thuật đúng đắn.”[18]
Hơn bất kỳ giáo hoàng nào khác, Đức Bênêđictô đến từ một trong những quốc gia tiến bộ nhất thế giới. Ngài nh́n thấy những tiến bộ khoa học nới rộng biên cương cho sự chết hoành hành như thế nào trong thời thế chiến. Ngài kinh nghiệm nhiều người bị tù đầy trong sự dư thừa kinh tế của Tây Đức sau thế chiến; ngài chứng kiến những sợi dây trói buộc mới do duy lư, duy vật hay ư thức hệ chính trị. Ngài thấy rơ nguyên tội, sự kiêu ngạo, đă mặc lấy một bộ mặt mới: triều đại của con người do chính trị mang lại. Khi niềm tin vào sự tiến bộ bị hổng chân ngay trong chính khoa học (kinh nghiệm về chiến tranh), con người đi t́m một chỗ dựa khác: chính trị. Họ tin rằng “lời phê b́nh về trời cao biến thành phê b́nh về trái đất, phê b́nh về thần học biến thành phê b́nh về chính trị. Tiến bộ tới thế giới tốt hơn không c̣n chỉ đến từ khoa học nhưng từ chính trị – từ một chính trị được quan niệm cách khoa học vốn nh́n nhận cấu trúc của lịch sử và xă hội và do đó chỉ ra con đường tới cách mạng, tới thay đổi mọi sự.”
Nhưng rồi cách mạng xong cũng chỉ mang lại vỡ mộng, và vỡ mộng khủng khiếp (Hồng quân Liên xô, chủ thuyết Đức Quốc Xă, Bức tường Berlin, Cách mạng Văn hoá Trung Quốc...). Phương thuốc sử dụng c̣n làm cho t́nh trạng thêm bi đát gấp bội,[19] v́ Marx chỉ “cho thấy phải lật đổ trật tự hiện có ra sao, nhưng không cho biết những chuyện sau đó phải tiến hành ra sao. Ông đơn giản cho rằng Giêrusalem mới sẽ được hiện thực với việc truất hữu giai cấp cai trị, với sự sụp đổ của quyền lực chính trị và xă hội hoá phương tiện sản xuất.” Nói tắt, ông nghĩ con người tất yếu được cứu độ bằng cơ cấu tổ chức đô thị trần thế. Ông nghĩ con người được cứu từ bên ngoài. Hay nói khác đi, con người tự cứu ḿnh. Nhưng ông lầm to:
“Ông [Marx] đă quên con người vẫn luôn là con người ... ông quên rằng tự do của con người vẫn c̣n là tự do cho điều xấu. Ông tưởng rằng một khi kinh tế đă ổn định, mọi sự sẽ đâu vào đấy. Sai lầm thực sự của ông là chủ nghĩa duy vật: thực thế, con người không chỉ là sản phẩm của các điều kiện kinh tế, và không thể cứu chữa con người chỉ từ bên ngoài bằng cách tạo ra những điều kiện kinh tế thuận lợi” (SS 21).
Quả là một nhận định độc đáo, đáng chúng ta để ư. “Một thế giới mất tự do không bao giờ tốt đẹp được” (SS 30). Mọi ư thức hệ không để ư đến sự thật ấy chỉ mang đến những tệ hại khủng khiếp hơn nữa. Dưới một khía cạnh nào đó tổng thống Pháp Nicolas Sarkoky cũng đồng ư khi nói đến một thứ thuyết trần tục tích cực vốn bảo vệ tự do tư tưởng, tự do tin và không tin, không coi tôn giáo là một nguy hiểm, nhưng là một vật quư. Theo đó, “một quốc gia bỏ quên gia sản đạo đức, tinh thần và tôn giáo của lịch sử ḿnh là phạm phải một tội ác chống lại văn hoá của ḿnh, chống lại toàn bộ di sản, lịch sử, nghệ thuật và các truyền thống dân gian của ḿnh vốn thấm nhập vào lối sống và nếp nghĩ một cách sâu xa”.
Tôi muốn trích dẫn một suy tư phản ánh tư tưởng của Đức Bênêđictô cách sâu sắc:
“Nếu tất cả chúng ta t́m kiếm hạnh phúc tại sao lại ít người hạnh phúc thật sự đến thế và ngay cả những người hạnh phúc chỉ hạnh phúc ngắn hạn thôi? Tôi tin rằng lư do chính yếu là, trong cuộc trèo lên đỉnh núi chúng ta đi sai, chúng ta quyết định trèo theo một hướng sai. Mạc khải nói: “Thiên Chúa là t́nh yêu” nhưng con người cố đảo ngược nói nằng “T́nh yêu là Thiên Chúa”! (đó là điều mà triết gia Ludwig Feuerbach đă nói). Mạc khải nói: “Thiên Chúa là hạnh phúc”, nhưng con người lại đảo ngược trật tự nói rằng “hạnh phúc là Thiên Chúa”! Nhưng rồi điều ǵ xẩy ra. Trên trần chúng ta không biết hạnh phúc thuần khiết, cũng chẳng biết t́nh yêu tuyệt đối; chúng ta chỉ biết những mảnh vụn hạnh phúc mà thường chỉ là sự kích thích chóng qua đối với giác quan chúng ta. Do vậy khi nói “hạnh phúc là Thiên Chúa” chúng ta thần hoá kinh nghiệm nhỏ nhoi của ḿnh; chúng ta gọi những công cuộc của đôi tay và khối óc chúng ta là “Thiên Chúa”. Chúng ta làm cho hạnh phúc thành một ngẫu tượng. Điều này giải thích tại sao người t́m kiếm Thiên Chúa luôn t́m thấy niềm vui, c̣n kẻ t́m vui thú lại không luôn luôn t́m thấy Thiên Chúa. Con người giản lược để t́m kiếm niềm vui theo số lượng: theo đuổi măi những khoái lạc và cảm xúc mănh liệt, hay thêm khoái lạc này đến khoái lạc khác – như người nghiện thuốc phiện cần những đô thuốc lớn hơn măi để có được cùng mức khoái lạc.”
Cùng với Augustinô, Đức Bênêđictô xác tín nhân phẩm cao cả không ở trong ‘bản năng cơ bản’ như Freud và duy vật đề xướng, nhưng ở khao khát (ta dám nói ‘bản năng’) chân lư và sự thiện; dĩ nhiên con người được dựng nên có dục tính, được dựng nên là nam là nữ, nhưng dục tính ấy lại chỉ có ư nghĩa khi làm cho con người lớn lên, trở nên trưởng thành trong t́nh yêu, trong hiệp thông, trong liên đới, nói tắt, làm con người nên người hơn. Bằng không, dục tính mất hẳn ư nghĩa, thành vô luân, thành phi nhân. Vậy, cùng với cả ḍng truyền thống tốt đẹp của con người, Đức Bênêđictô cho thấy bản năng sâu xa nhất là bản năng hướng tới chân thiện mỹ, tới tuyệt đối, tới đơn nhất, nói tắt, tới Thiên Chúa. Nó hướng tới sự ḥa hợp chân lư và sự thiện.
Hiểu sâu xa quan điểm của Tôma Aquinas, Đức Bênêđictô chống lại một chủ nghĩa duy ư chí đă có từ thời Duns Scotus. Nó đề cao ư chí Thiên Chúa đến độ vẽ ra một Thiên Chúa phi lư, tuỳ hứng, không luật lệ. Thiên Chúa muốn th́ mọi sự đều phải hiện thực kể cả tôn thờ ngẫu tượng!!! Như thế, “cưỡng bách tôn giáo” có chỗ đứng.[20] Thế nhưng, Đức Bênêđictô cùng với các giáo phụ lật tẩy bộ mặt nham nhở của lập trường trên khi cho rằng Thiên Chúa có thể làm được mọi sự trừ nói dối. Thiên Chúa không phản lại lư trí mà ngài đă dựng nên để khao khát chân lư. Xin cho phép tôi trích vài điều quan trọng trong diễn từ tại Regensburg:
Đức tin và lư trí gặp nhau sâu xa đă xẩy ra ở đây. Cuộc gặp gỡ giữa sự soi sáng và tôn giáo. Từ trong chính cốt lơi của đức tin Kitô hữu và, đồng thời, từ cốt lơi của tư tưởng Hy lạp nay được nối kết với đức tin, Manuel II có thể nói: không hành động “với Logos” là trái với bản tính Thiên Chúa... Điều này (chủ thuyết duy ư chí, voluntas ordinata) nêu lên những lập trường vốn rơ ràng tiến tới những lập trường của Ibn Hazm và thậm chí có thể dẫn tới h́nh ảnh một Thiên Chúa thất thường ngay cả không bị buộc vào chân lư và sự thiện. Ibn Hazm đi quá xa khi nói rằng Thiên Chúa không bị buộc ngay cả vào lời ngài và không ǵ buộc ngài để mạc khải chân lư cho chúng ta. Nếu Thiên Chúa muốn, thậm chí chúng ta sẽ phải tôn thờ ngẫu tượng cơ mà... Bạo lực không tương hợp với bản tính Thiên Chúa và bản tính linh hồn. Ông nói: “Thiên Chúa không vui v́ máu đổ – và không hành động hợp lư là trái với bản tính Thiên Chúa. Đức tin được sinh ra từ linh hồn, chứ không phải thân xác. Bất kỳ ai muốn dẫn kẻ khác đến đức tin cần khả năng nói tốt và lư luận thích đáng, không bạo lực và đe doạ... Để thuyết phục một linh hồn có lư trí, ta không cần một bàn tay mạnh, hay bất kỳ vũ khí nào, hay bất kỳ phương thế đe doạ một người với cái chết...”
Như thế, tin vào Thiên Chúa không chút biến con người thành phi nhân, bạo tàn, khát máu. Ngược lại mới đúng. Con người đích thực phải tin nhận có Thiên Chúa và sống như thể có Ngài. Chỉ nhờ Ngài mới có thể giải đáp cái kinh nghiệm kinh khủng của con người: cô đơn. “Nếu tôi không c̣n có thể nói chuyện với ai, nếu tôi không c̣n có thể kêu cầu đến bất cứ người nào, ... Thiên Chúa vẫn có thể giúp tôi” (SS 32). Chính Ngài làm cho tâm hồn con người rộng mở (x. SS 34). Nếu không có Thiên Chúa con người sẽ ẩn núp trong giả dối và “trở thành độc ác và vô nhân đạo” (SS 38).
Những lời này tôi nghĩ đủ để mệnh danh Đức Bênêđictô là vị giáo hoàng của sự hoà hợp giữa đức tin và lư trí mà tận căn Đức Gioan XXIII đă muốn khi khai mạc Vatican II.[21] Nhận định này không ngoa chút nào khi ta lắng nghe những lời này cách chân thành: “Chính v́ thế mà lư trí cần đến đức tin để hoàn toàn là chính ḿnh: lư trí và đức tin cần đến nhau để hoàn thành bản chất và sứ mạng đích thực của ḿnh” (SS 23). Lư trí không đức tin chỉ kiêu ngạo, đức tin không lư trí khác nào mê tín. V́ vậy, khi thời mới chỉ đặt niềm tin vào tiến bộ, ta thấy “mối đe dọa đối với con người và thế giới” dâng cao (SS 23). Một triều đại của con người sẽ không thoát khỏi sự thực: mọi sự sẽ kết tận tồi tệ, (x. SS 23) như chính Kant đă cho thấy. Sự bách chiến bách thắng của ư thức hệ “không sinh ra một thế giới lành mạnh, nhưng để lại đàng sau ḿnh một sự tàn phá khủng khiếp” (SS 21).
Tuy nhiên, sự hoà hợp lư trí và đức tin trong cộng đoàn như thế lại làm chứng cho sự đóng góp có một không hai của Kitô giáo. Đức Giêsu Kitô có một địa vị khôn sánh, v́ “nhờ Người, chúng ta được xác tín hơn về Thiên Chúa, một Thiên Chúa không phải như một ‘nguyên nhân đệ nhất’ xa xôi của thế giới” (SS 26; cũng x. 9; 10; 12). Tôn trọng lư trí cách đúng đắn cho phép ta đánh giá đúng Đức Giêsu cần thiết như thế nào để cho con người nên người hơn. (x. SS 30; 34; 36) Spe salvi diễn đạt chân lư này bằng cách nêu rơ niềm tin vào Đức Giêsu khiến các tín hữu thấy được một bản thể khác, vững bền hơn so với những ǵ họ đă từng gắn bó (x. SS 7-12). Về mặt này, chúng ta có thể thấy điều Pascal trực giác về sự khác biệt giữa Thượng đế của triết gia và Thiên Chúa của người Kitô hữu được tiếp nối và không hề làm suy giảm vai tṛ triết học.
Tuy nhiên, cả lư trí lẫn đức tin đều t́m đến sự hoà hợp, sự thống nhất. Chúng chỉ an nghỉ nơi Đấng là nguồn cội mọi sự và cũng thưởng phạt mọi người (x. SS 44). Vũ trụ thống nhất bộc lộ một Đấng là Logos. Con người có lư trí đi t́m sự thống nhất đời sống ḿnh, vốn là dấu hiệu rơ ràng của một người trưởng thành. Chất thể hay vật chất th́ tổ hợp, c̣n ngôi vị là duy nhất. Chính v́ thế mà cả Descartes lẫn Gassendi đều thiếu sót.[22] Xác tín như thế, Đức Bênêđictô dám nói “Chân lư làm chúng ta nên tốt và sự thiện đều chân thật”. “Lư trí chỉ trở nên nhân bản nếu nó có khả năng chỉ đường cho ư chí và lư trí chỉ làm được điều này nếu nó biết vượt lên trên chính ḿnh” (SS 23). Ở đây, không phải tư tưởng của thánh Tôma được lập lại với một ngôn ngữ mới hay sao? Mà để ḥa hợp và đi đến thống nhất, đ̣i buộc phải có “một tiêu chuẩn đánh giá nội tại chung, tiêu chuẩn đó là nền tảng và mục đích của tự do. Nói cách đơn giản, “con người cần đến Thiên Chúa, nếu không, con người vẫn c̣n thiếu vắng niềm hy vọng” (SS 23). V́ vậy, “trong mọi lời nói việc làm, con người buộc phải trung thành theo đuổi điều ǵ họ biết là ngay chính và chính trực” (Sách giáo lư, số 1778). Để thống nhất đời sống, con người phải đặt nền cuộc sống ḿnh trên nền tảng vững chắc của chân lư, trên những giá trị chân thật để đối diện được văn hoá đa nguyên và hoàn cảnh xă hội, chứ không phải trên những dễ dăi và ngay cả trên tiêu chuẩn lư trí và tự do dựa trên bạo lực và cách mạng của thời mới.[23]
Nhận định trên về Đức Bênêđictô c̣n đúng hơn nữa khi ngài là vị giáo hoàng trong thời đại này dám mệnh danh Đức Giêsu là nhà Triết Gia và Mục Tử đúng thực. Theo Ratzinger, triết lư thời xưa không bàn nhiều đến các môn học như ngày nay, song đúng hơn, đến cách dạy nghệ thuật làm người cách chân chính. Cái “biết chính ḿnh” của Socrates đưa ông tới một cái chết đáng tự hào. C̣n Đức Giêsu chỉ cho con người biết con đường sự sống ngay cả ngang qua lũng âm u sự chết. (x. SS). Ngài nói cho ta “con người thật sự là ai và con người phải làm ǵ để thật sự là người. Ngài tỏ cho ta con đường này, và đường này là sự thật. Chính Ngài là đường và sự thật, và v́ vậy Ngài cũng là sự sống mà tất cả chúng ta đang t́m kiếm. Ngài cũng chỉ cho ta con đường bên kia sự chết; chỉ người nào có thể làm thế mới là thầy dạy đích thực của đời sống.”
Trước thực tại
này, Đức Bênêđictô dám khẳng quyết “không phải mọi thứ nhân bản thuyết đều bằng
nhau”. Có những thứ nhân bản chỉ làm nghèo đi con người, v́ sợ hăi nh́n nhận
chân lư về chính ḿnh. Có những thứ nhân bản thuyết chỉ tạo nên vong thân, gói
ghém con người trong hận thù, trong ích kỷ, trong thoả măn. Có những thứ nhân
bản thuyết chỉ bằng ḷng với homo faber, con người vấn đề hơn là homo
sapiens, con người huyền nhiệm. C̣n kinh nghiệm dạy ta rằng thinh lặng nh́n
vào chính ḿnh dễ làm chúng ta ngủ gật hơn là chạy nhảy, ba hoa hay ngay cả hoạt
động. Tại sao? V́ những chủ thuyết đó không thể lưu ư đủ đến sự toàn diện của
nhân vị. Chính sự toàn diện của nhân vị quả là thách đố then chốt của thiên niên
kỷ thứ ba. Điều này một đàng “đ̣i buộc phải
trân trọng và để ư đến tất cả các khía cạnh của con người, dù là vật chất, t́nh
cảm, xă hội, chính trị, kinh tế, văn hoá và tôn giáo.” Đàng khác, nó đ̣i buộc
con người không được đảo lộn bậc thang giá trị giữa chúng. Xét cho cùng, con
người không sống v́ đồ họ ăn, song sống v́ được yêu mến. Sự đính kết trung thành
với trật tự các giá trị mới giải phóng con người khỏi mọi h́nh thức thoả măn tạo
nên nô lệ trong t́nh yêu.[24]
Nhờ chuẩn mực là sự toàn diện nhân vị này, con người phân định rơ thế nào là
t́nh yêu và thế nào là cảm xúc ngắn hạn. “Cảm xúc đến rồi đi... nhưng t́nh yêu
chạm đến Thiên Chúa”. Họ cũng chẳng măn nguyện với cái hiện tại cụt ngủn mà
chính trị đề xướng. Họ cũng chẳng thể hưởng măi vật chất thặng dư và đồ ăn mà
nếu chất đống lên sẽ chỉ mang lại một mùi hôi thối không thể chịu được hay làm
mồi cho mối mọt mà thôi. “Một chính quyền mà chỉ lo ... thật không ra ǵ”. Con
người chỉ có thể sống được nhờ khao khát chân lư tối hậu được ôm ấp cách tự do
trong sự thiện, v́ “cùng với nhu cầu yêu mến, sự khao khát chân lư là cố hữu
trong chính bản tính của con người.”[25]
Nhưng ư nghĩa đời sống dẫn tới sự thay đổi bên trong (x. SS 2; 3; 8). Cơ cấu, tổ chức bên ngoài cũng quan trọng, nhưng chỉ có những ai được t́nh yêu chạm đến mới mang lại sự mới mẻ thật sự cho thế giới mà thôi (x. SS 26). Mà sự biến đổi thật sự thế giới này cần đến là ǵ? Hẳn không phải là thứ lư trí khép kín của Descartes rồi, v́ “‘cứu chuộc’ xuất hiện thực sự như việc tái lập hiệp nhất” (x. SS 14), c̣n tội là chia rẽ, ích kỷ (x. SS 15). Tựa đề “Phải chăng niềm hy vọng Kitô giáo mang tính cá nhân chủ nghĩa?” cho thấy rơ sự đối kháng giữa sự cứu độ của Kitô giáo và của ư thức hệ khác (x. SS 13). Với Ratzinger, con người không phải là một đơn tử khép kín và không có cửa sổ. Trái lại, niềm hy vọng chân chính khẳng định “sự sống thật mà chúng ta không ngừng hướng tới được gắn liền vào cuộc sống hiệp nhất với một “dân” và đối với mỗi người, sự sống ấy chỉ có thể được thực hiện trong cái “chúng ta” này. V́ vậy, sự sống thật này giả thiết phải có cuộc xuất hành ra khỏi ngục tù của cái “tôi”, bởi v́ chỉ khi cái “tôi” mở ra với cái “chúng ta”, th́ tầm nh́n của ta mới có thể vươn đến nguồn mạch của niềm vui, đến chính t́nh yêu, nghĩa là đến cùng Thiên Chúa” (SS 14). Đang khi đó, ư thức hệ duy vật biện chứng, chủ nghĩa tiêu thụ và chủ nghĩa khoa học được đặc trưng bằng ích kỷ và khép kín.
Trong ánh sáng của Đức Kitô là Đấng đă chết cho sự thật, cho t́nh yêu, kinh nghiệm giới hạn như khổ đau hay sự chết không đưa đến chủ nghĩa cá nhân (x. SS 33; 38; 39-40), v́ “thước đo nhân tính được xác định chủ yếu trong tương quan với đau khổ và người đau khổ... Một xă hội không chấp nhận được những người đau khổ và không có khả năng chia sẻ cũng như mang lấy đau khổ của họ trong tâm hồn bằng sự đồng cảm, là một xă hội độc ác và vô nhân đạo” (SS 38). Nó không thả cương cho tuỳ tiện, hay phi lư mà Jean Paul Sartre đă chủ trương. Nó cũng không chết ch́m trong thứ tôn giáo đạo đức riêng tư của Kierkegaard. Trái lại, đau khổ vẫn có thể khiến một người trở nên sự an ủi cho người khác (x. SS 39), trở nên trách nhiệm và cam kết (x. SS 5; 15). Chúng ta nghĩ đến những bà mẹ chấp nhận mệt nhọc để nên niềm an ủi cho đứa con ốm yếu, tật nguyền. Quả thực, tính xă hội và cộng đồng không phải là một cái ǵ thêm vào cho nhân vị lư trí song là chính cấu trúc cho mọi sinh hoạt của con người: tư duy, t́nh cảm, yêu mến, tự do. Đức Giáo hoàng giải thích, “con người được đặc trưng bởi tính tha thể (otherness) của ḿnh. Là người, họ không bao giờ đóng kín nơi chính ḿnh. Họ luôn là một người mang lấy tha thể tính, và từ cội rễ của ḿnh, họ tương tác với những con người khác. Con người không phải là kết quả của may rủi suông, của những hoàn cảnh đồng qui, của tất định, của những phản ứng hóa học. Con người vui hưởng một sự tự do mà ... siêu việt bản tính của ḿnh và là một dấu chỉ về mầu nhiệm của tính tha thể vốn cư ngụ ở trong họ.”
Ai trong chúng ta không kinh nghiệm điều này: chúng ta “nhận được gia sản cao quư từ hai nguồn: cuộc sống, được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác mà tại nguồn mạch tối hậu của nó chúng ta t́m thấy Thiên Chúa, đầy t́nh yêu và sự khôn ngoan; và sự dưỡng dục, vốn đặt chúng ta trong một văn hoá tới mức độ chúng ta có thể nói rằng ḿnh là con cái của văn hoá, và như vậy của đức tin, hơn là của thiên nhiên. Từ đời sống nảy sinh sự tự do, vốn tỏ lộ cách đặc biệt trong giai đoạn này như trách nhiệm.”[26] Đánh mất cấu trúc này con người làm mồi cho chủ nghĩa cá nhân, vốn đang trá h́nh dưới chủ trương toàn cầu hoá kinh tế. Rơ ràng, “triết học không bắt đầu lại từ số không với chủ thể tư duy trong cô lập, song đúng hơn nó đứng đối thoại với sự khôn ngoan có tính lịch sử.”
Khía cạnh cộng đồng này, từ thời cận đại (hay thời mới) đă không nh́n ra nơi Kitô giáo; nó nghĩ Kitô giáo quả là chủ nghĩa cá nhân đáng ghét.[27] Nhận định của Marx-Lênin chỉ đúng ở một số trường hợp đặc thù chứ không ở chính bản chất của Kitô giáo; Nietzsche đă tôn dương ư chí quyền lực vốn là cha đẻ của Đức Quốc xă: Đức mến là sự hoàn thiện của lề luật đă bị chối từ. C̣n Feuerbach cũng chỉ đúng cho một vài tâm hồn ủy mị và lừa dối chính ḿnh, v́ “cầu nguyện không có nghĩa là thoát ly khỏi lịch sử và rút vào trong góc hạnh phúc riêng tư. Cách cầu nguyện đúng đắn là một tiến tŕnh thanh luyện nội tâm, giúp ta mở ḷng với Thiên Chúa và nhờ đó cũng mở ḷng ra với đồng loại.” (SS 33) Đức Bênêđictô nhận xét rằng “những trào lưu tổng quát của xă hội trong đó chúng ta sống và h́nh ảnh nó tạo ra về chính ḿnh qua các phương tiện truyền thống, thực thi một tác động lớn lao trên việc đào luyện các thế hệ mới, cũng thường tốt đẹp và thường cả xấu xa nữa. Xă hội không phải là một khái niệm trừu tượng; xét cho chúng nó là chính chúng ta mà.”
Những bài học cho Giáo hội chúng ta hôm nay
Chúng ta không được để cho ngày học tập này qua đi mà không kín múc chút ǵ đó cho đời sống chúng ta. Tôi chỉ xin đề xướng cách vắn gọn ba điều và chúng cũng hợp với hướng đi của Hội Đồng Giám mục VN năm nay từ chiều kích nhân bản của thông điệp. Trước tiên, thông điệp sẽ ích lợi nếu chúng ta tự hỏi về ư nghĩa của giáo dục (cho chính ḿnh cũng như người khác). Nếu hẳn thật giáo dục không chỉ nhằm đào tạo những người kiến thức nhưng là những người có văn hoá, cam kết truy t́m sự thật và sự thiện, th́ suy nghĩ đúng về con người quả là quan trọng. Người sinh viên thần học cũng chỉ thật sự xứng danh đó khi chỉ có một ḷng một trí t́m ṭi chân lư. Chính v́ sự cam kết này mà Giáo hội không bao giờ đứng ngoài ṿng giáo dục, ngay cả trong một xă hội không dành cho ḿnh một chỗ trong việc đó.
Theo ánh sáng đó, hữu vị hoá tiến tŕnh đào luyện, hay c̣n gọi là đào luyện lương tâm trở thành đáng được quan tâm hàng đầu. Chúng ta đă quen sống “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó” hay “bề trên hoặc thầy đă bảo” (magister dixit). Thế nhưng chúng ta cũng kinh nghiệm rằng bao lâu những giá trị không được chúng ta tự do chấp nhận và làm thành của ḿnh, bấy lâu mọi sự rơi xuống trên chúng ta y như “nước đổ lá khoai”. Nếu ngày nay ai ai cũng coi nhân phẩm là trung tâm, con người lănh trách nhiệm xây dựng đời ḿnh, th́ sự hoà hợp giữa đức tin và lư trí đ̣i hỏi một tiến tŕnh nội tâm hoá những giá trị chân chính. Giáo dục chỉ đạt được ư nghĩa khi những người thụ giáo thật sự là những tác nhân chân chính của việc đào luyện chính ḿnh. Nếu những giá trị ấy vẫn c̣n bị cưỡng bức từ bên ngoài, chúng ta không thấy tương lai, cả cho giáo hội lẫn cho xă hội.
Mà đào luyện lương tâm đối với chúng ta hẳn đi liền với căn tính Kitô hữu được nhập thể như Rodnay Stark nói. “tin vào Tin mừng có nghĩa là thay đổi toàn bộ lối suy nghĩ và lối sống. Nó là sự biến đổi tận căn, tận căn đến nỗi họ không thể tiếp tục sống như những người chung quanh nữa.” Đó không phải là một cuộc lội ngược ḍng hay sao? Chúng ta không thể vừa chấp nhận Đức Kitô vừa gắn bó với lối sống thù nghịch với thập giá. Các Kitô hữu sơ khai không như thế. Theo Tổng giám mục Chaput, “Các Kitô hữu sơ khai đặt cược đời ḿnh vào niềm tin Thiên Chúa là Cha... chúng ta phục vụ đất nước cách tốt nhất bằng cách nhớ rằng chúng ta là những công dân của thiên quốc trước tiên.” Trong ánh sáng này, Đức Giáo hoàng nói: “Đào luyện một lương tâm chân thật, bởi v́ nó được đặt nền trên chân lư, và ngay thẳng, bởi v́ nó được quyết định theo đuổi những mệnh lệnh của nó, không chút đối nghịch, không chút phản bội và không thoả hiệp, ngày nay quả là một trách vụ tế nhị, khó khăn, song bất khả thế.”[28]
Điều thứ hai liên quan đến việc sử dụng thời giờ rảnh rỗi. Tính toàn diện của con người không cho phép chúng ta coi thường giá trị của nghệ thuật, kịch nghệ, ca múa, giải trí, dă ngoại để h́nh thành một người tốt và quân b́nh. Nô lệ cho các tṛ chơi điện tử không phải là cách dùng thời giờ rảnh rỗi phù hợp với tính toàn diện của con người. Kinh nghiệm mách bảo cho chúng ta về những con người bất quân b́nh. Chúng ta cần làm sống lại những sinh hoạt nhóm trong những giờ rảnh rỗi để h́nh thành những con người hữu ích cho xă hội.
Điều thứ ba là nỗ lực hướng tới những thực tại đời sống. Trong giáo dục, lư thuyết mà thôi không đủ. Một chuyên viên về giáo dục nói cho chúng ta: “Đào luyện tâm trí và cơi ḷng phải được đi kèm bằng khả năng thực tiễn và với những khả năng khác, một tinh thần sáng kiến, khả năng chân thành làm những hy sinh lớn nhỏ, một khuynh hướng hữu vị tới làm việc với một ư thức trách nhiệm, một ước muốn học những tài khéo và kỹ năng và cách thức để phục vụ người khác; nói chung, hoạt động sư phạm can dự đến một sự huấn luyện trong việc tiếp cận với tính thực tiễn của cuộc sống với một ư thức ngày một gia tăng về sự cộng tác nghiêm chỉnh.”[29] Niềm hy vọng đặt chiếc neo của ḿnh trong chính ngai toà Thiên Chúa. Nhờ đó, “thay v́ sự dữ hoành hành nơi con người, th́ ánh sáng bừng lên chiến thắng: khổ đau, tuy vẫn c̣n là khổ đau, nhưng bất chấp mọi sự, đă trở nên bài ca ngợi khen Chúa” (SS 37).
Kết luận
Chắc chắn cuộc sống vẫn trôi. Nơi đó có cả niềm vui lẫn nỗi buồn. Thế nhưng, tất cả đều nói lên rằng cuộc sống vẫn tuyệt vời, cuộc sống vẫn là một tặng phẩm. Lư trí mách bảo cho chúng ta đời đáng sống, không phải trước tiên bởi v́ chúng ta xây dựng nó. Nhưng tiên vàn, Thiên Chúa đi vào tận chốn tăm tối nhất của nó, nếu ta có thể nói là ‘hoả ngục’, để luôn tỏ lộ rằng chính Ngài là ánh sáng, là sự sống và sự sống lại. Chính niềm khao khát Thiên Chúa nói cho chúng ta phẩm giá con người mang tính toàn diện. Nó luôn phải chống lại một thứ ích kỷ để đi tới những chân trời của hiệp thông giữa tôi-bạn.[30] Niềm hy vọng không mang lại sự hiệp thông chắc chắn sẽ là một ảo vọng. ª
[1] x. Đức Bênêđictô XVI, từ website Zenit.org, ngày 5. 2.2006.
[2] x. GS 4
[3] x. GS chương I và II.
[4] x. Peter Phan, Mission and Inculturation.
[5] x. Những phản ứng trước Dominus Iesus.
[6] x. Sách Giáo lư, chương I, số 27.
[7] x. SS 12; Diễn từ cho các giám mục Nhật ad limina
[8] x. Cao bá Quát, Vịnh cảnh nghèo; x. Nguyễn công Trứ, Vịnh cảnh nghèo.
[9] x. Pascal, Pensée.
[10] Bài nói chuyện cho các khoa học gia.
[11] x. Diễn từ cho khoa học gia.
[12] Diễn từ tại La Sapienza.
[13] Rôma, 5 tháng 6/2006.
[14] x. Diễn từ cho khoa học gia.
[15] Castel Ganddolfo, 16 tháng 8/2006.
[16] Castel Gandolfo, 5 tháng 8/2006.
[17] x. Diễn từ tại Castel Gandolfo, 5 tháng 8/2006; x. GS.
[18] x. Castel Gandolfo, 5 tháng 8/2006.
[19] x. Gioan Phaolô II, Sollicitudo.
[20] x. Diễn từ tại Regensburg.
[21] x. Diễn từ khai mạc Công đồng.
[22] x. Deus caritas est.
[23] x. Diễn từ tại Clementine Hall, 24 tháng 2/2007.
[24] Rôma, 5 tháng 6/2006.
[25] Rôma, 5 tháng 6/2006; x. Spe salvi.
[26] Diễn từ tại Sao Paulo, 10 tháng 5/2007.
[27] x. Deus caritas est.
[28] Clementine Hall, 24 tháng 2/2007.
[29] E. Vigano, New Education,
[30] Buber, I and Thou.