H  Home page

 

CHUYẾN HẢI TR̀NH HY VỌNG

 

Lm. Emmanuel NGUYỄN HỒNG SƠN

 

Ngay trong phần dẫn nhập vào Thông điệp, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đă cho chúng ta thấy rơ hướng đi trong những suy tư của Ngài: không chỉ t́m lư giải cho một sự kiện, nhưng là để nói về và nói với chính chúng ta, những người đang sống, những người “đă được ban cho niềm hy vọng, một niềm hy vọng khả tín, nhờ đó chúng ta có thể đương đầu với hiện tại: một hiện tại, cho dù khổ nhọc, nhưng chúng ta có thể sống và chấp nhận nếu nó dẫn đến một cùng đích, nếu chúng ta có thể chắc chắn về cùng đích này, và nếu cùng đích này cao cả đến mức có thể biện minh cho những cố gắng trên đường đi” (SS 1). Trong hướng đi này, sứ điệp gửi đến chúng ta không chỉ mang tính “thông tin” về niềm hy vọng kitô giáo mà c̣n đem đến “tác động”, làm thay đổi cuộc sống người tín hữu kitô. Chính tính cách “tác động” này mở ra góc nh́n mục vụ của Thông điệp cho phép chúng ta nhận ra những hướng dẫn thực hành cho cuộc sống kitô hữu mà ở đây, theo gợi ư của Đức Thánh Cha, chúng ta muốn h́nh dung như một chuyến hải tŕnh trên biển đời trần thế. H́nh dung như thế v́, với h́nh ảnh chuyến đi dài trên biển, chúng ta sẽ dễ suy nghĩ về niềm hy vọng, nghĩa là về một nơi nào đó c̣n thật xa, nhưng sức hấp dẫn đă có thể đưa con tàu và đoàn người xuất bến; về một điều ǵ đó chưa rơ ràng, nhưng chỉ cần nhắc tới cũng đủ làm rực sáng ánh mắt những người đang lênh đênh giữa trùng dương; hoặc về một ai đó mà chỉ nguyên nỗi khát mong gặp mặt cũng đủ làm nên sức mạnh để băng vượt trở ngại, hiểm nguy.

Đàng khác, ít nhiều chúng ta đă có những cảm nghiệm về khả năng quá đỗi giới hạn của con người, trong khi cuộc đời th́ như mặt biển rộng dẫy đầy thử thách, với bao nhiêu sóng dữ xô đập và không ít đá ngầm ẩn khuất, c̣n bến bờ th́ cứ như mịt mù diệu vợi. Có bí quyết nào giúp chúng ta giữ được b́nh an trong băo tố? Có sức mạnh nào giúp chúng ta đứng vững khi đă quá ră rời mệt mỏi giữa trùng khơi biển động? Có chỉ dẫn nào giúp chúng ta không mất hướng giữa đêm đen ngờ vực? Chúng ta sẽ đi vào phần cuối của Thông điệp với một chút tưởng tượng về chính ḿnh đang có mặt trên thuyền đời giữa đại dương, đang đối diện với hiện tại nhưng mũi thuyền vẫn rẽ sóng tiến về tương lai, đang đương đầu với sóng gió nhưng vẫn giữ chắc đời ḿnh với sợi dây neo hy vọng, đang sống cuộc sống của chính ḿnh nhưng luôn chuyển động theo hướng lái của t́nh yêu, đang giữa biển đời nhưng mắt không rời khỏi ánh sao toả sáng từ trời cao. 

Trên lộ tŕnh Tin Yêu

Con người đă nỗ lực đi t́m chân lư, đă cố gắng xác định điểm đến của nhân loại trên ḍng chảy lịch sử, muốn nhận thấy ư nghĩa và cứu cánh đích thực của cuộc sống nhân linh. Đă có nhiều người cố vạch đường bằng suy tư triết lư, bằng hành động chính trị hay bằng tiến bộ khoa học, nhưng cuối cùng dường như đó chỉ là những lộ tŕnh không dẫn đến mục tiêu, và không ít người đă phải thất bại trong những chuyến đi vô vọng. Đức Thánh Cha, trong khi phân tích từng ngă rẽ, khúc quanh của các lối đi, đă tŕnh bày về niềm Hy vọng Kitô giáo như chân trời mở rộng cho tương lai một thế giới tốt lành và một nhân loại hạnh phúc. Trong “một thế giới không hoàn thiện tự bản chất”, khi mà con người tự ḿnh không sao đạt được tới ơn cứu độ, th́ chính Thiên Chúa đă đi vào lịch sử để mở lối, để dẫn đường. Con người đă có thể hy vọng, và niềm hy vọng cao cả này chỉ có thể được giải thích bằng t́nh yêu của Thiên Chúa, Đấng yêu thương con người, và đă yêu thương “đến cùng”, yêu cho đến khi “mọi sự được hoàn tất”. Và trên đường tiến về Nước Trời, “chỉ có t́nh yêu Thiên Chúa mới ban cho chúng ta khả năng kiên vững ngày này qua ngày khác, mà không đánh mất đi nhiệt t́nh của niềm hy vọng” (SS 31).

Đọc Thông điệp, chúng ta có cảm tưởng như thể, trên chuyến tàu của lịch sử nhân loại đang c̣n bị xô kéo ngang dọc theo nhiều ḍng hải lưu bất định, Đức Thánh Cha đang t́m cách bẻ chiếc bánh lái để đưa tàu xoay hướng vào niềm tin nơi Thiên Chúa, khích lệ thủy thủ đoàn sử dụng hết công suất của t́nh yêu, dơi theo ánh sao của niềm hy vọng Kitô giáo. Thật vậy, có thể nói, trước khi chỉ cho mọi người thấy vùng hải phận đầy hy vọng của Vương quốc T́nh yêu đang được thiết lập ở bất cứ nơi nào Thiên Chúa được yêu thương và ở bất kỳ nơi nào t́nh yêu của Ngài đến được với con người, trước khi nói với thế giới rằng “niềm hy vọng thật sự và cao cả của con người, niềm hy vọng vững vàng bất chấp mọi nỗi thất vọng, chỉ có thể là Thiên Chúa” (SS 27), Đức Bênêđictô XVI, ngay từ khi viết Thông điệp “Thiên Chúa là T́nh Yêu”, đă khẳng định: “T́nh yêu là ánh sáng – cuối cùng là ánh sáng duy nhất – sẽ làm cho một thế giới đen tối được bừng sáng trở lại và ban cho chúng ta sự can đảm để sống và để hành động” (Deus caritas est 39). Chỉ trong ánh sáng của t́nh yêu, chúng ta mới thấy được nền tảng của mọi hy vọng chính là Thiên Chúa, dĩ nhiên không là một vị chúa cao xa nào đó, nhưng là Đấng Thiên Chúa đă chấp nhận bước lên chuyến tàu nhân loại, chấp nhận gánh vác số phận của những kẻ đồng hội đồng thuyền, không là một vị thần vô cảm nào đó, nhưng là “Đấng Thiên Chúa có diện mạo con người và là Đấng đă yêu thương chúng ta đến cùng: từng cá nhân và toàn thể nhân loại” (SS 31).

Chuyến đi của mỗi người đă bắt đầu từ ngày lănh nhận bí tích Thánh Tẩy, điểm xuất phát để đi t́m sự Sống đời đời. Nếu Đức Tin đă mở đường cho niềm Trông Cậy sẽ được cứu rỗi, th́ chính Đức Mến sẽ định hướng cho cả chuyến hành tŕnh hy vọng. Nếu niềm Hy vọng mang h́nh ảnh chiếc neo để bám chắc trong giông băo, th́ Đức Tin sẽ như chiếc bánh lái điều hướng và T́nh yêu chính là động cơ làm chuyển động cả con tàu. Nếu được đức Ái hướng dẫn khi dấn thân hành động, lúc đối diện đau khổ, và cả khi cầu nguyện, chúng ta sẽ tránh được nguy cơ lạc hướng đức Tin, không để bị trôi giạt theo những chủ thuyết đối nghịch chân lư và không c̣n bị lôi kéo bởi những cách sống ngược hướng Tin mừng.

Chuyến đi dài trong băo táp

Hành động

Trên con tàu đang tiến về tương lai, chúng ta sẽ không ngồi im để hy vọng, nhưng luôn nỗ lực để hy vọng bằng hành động. Với hành động, chúng ta như căng rộng cánh buồm cho con tàu lướt tới trong từng niềm hy vọng lớn nhỏ, khi theo đuổi thực hiện cách tốt đẹp và đúng đắn những ước mơ hằng ngày dù bé nhỏ hay lớn lao, khi làm việc nghiêm túc để chuẩn bị cho tương lai cuộc sống, khi dấn thân làm cho thế giới này được “tươi sáng và nhân bản hơn” dù chỉ “một chút”.

Tuy nhiên, Đức Thánh Cha cũng cảnh báo chúng ta rằng hành động của con người dễ gặp nhiều thất bại, trong các công việc thường ngày và cả trong những công tŕnh mang tầm vóc lịch sử. Một lúc nào đó, chúng ta có thể hoặc bị kiệt sức v́ thất bại hoặc trở thành cuồng tín hay nhanh chóng mất đi niềm hy vọng Làm thế nào để luôn có thể tiếp tục hy vọng kể cả vào những thời điểm trong đời sống cá nhân hay trong lịch sử nhân loại dường như không c̣n ǵ để hy vọng, để có thể can đảm tiếp tục hành động và kiên tŕ tiến bước? Làm thế nào để thấy được ư nghĩa và tầm quan trọng của toàn thể lịch sử cũng như của cuộc sống mỗi người? Câu trả lời gắn vào hai chữ Hy Vọng, nhưng không phải là thứ hy vọng trước những điều đạt được trong một thời gian nhất định hay trước những ǵ các nhà cầm quyền chính trị và kinh tế hứa hẹn, nhưng là niềm hy vọng lớn lao, nhờ đó chúng ta xác tín rằng đời sống mỗi người và toàn thể lịch sử “được giữ ǵn vững chắc trong quyền năng không thể hủy diệt của T́nh Yêu” (SS 35).

Lời đáp trả cho niềm hy vọng lớn lao ấy chính là Nước Thiên Chúa, Vương quốc của T́nh yêu. Bằng hành động, chúng ta xây dựng nước trần gian nhưng sẽ đón nhận Nước Thiên Chúa như món quà tặng của T́nh yêu. Tuy dù các việc chúng ta thực hiện trong giới hạn nhân loại không làm cho chúng ta được “xứng đáng” hưởng Thiên đàng, nhưng các hành động ấy vẫn có giá trị trước mặt Thiên Chúa và v́ thế cũng có ư nghĩa đối với diễn tiến lịch sử. Theo Đức Thánh Cha, qua hành động, chúng ta có thể trở thành những “cộng sự viên của Thiên Chúa”, góp phần vào việc cứu độ trần gian, khi “mở rộng ḷng ḿnh cũng như thế giới để cho Thiên Chúa đi vào: mở ra với chân lư, t́nh yêu và thiện hảo”; “chúng ta có thể giải thoát cuộc đời ḿnh cũng như thế giới khỏi những chất độc và sự ô nhiễm có nguy cơ hủy diệt hiện tại và tương lai”; ngoài ra, nhờ hành động, chúng ta có thể khám phá, bảo tồn và sử dụng theo những đ̣i hỏi nội tại và mục đích tối hậu của công tŕnh sáng tạo vốn là ân ban của Thiên Chúa dành cho con người.

Trong ư nghĩa đó, nếu mỗi hành động đều làm phát sinh một hy vọng nào đó cho chúng ta và cho người khác, th́ chính niềm hy vọng cao cả dựa trên các lời hứa của Thiên Chúa lại đem đến cho chúng ta sự can đảm và hướng dẫn hành động của chúng ta trong mọi lúc, khi thuận tiện cũng như trong nghịch cảnh (x. SS 35).

Đau khổ

Chúng ta không bi quan để thấy cuộc đời chung quanh chỉ là bể khổ, nhưng cũng không ngây thơ để nghĩ đau khổ chỉ là chuyện giản đơn. Thật vậy, giải quyết vấn đề đau khổ vẫn luôn là một trăn trở triền miên của nhân loại. Người ta đă t́m biết bao cách thế để giải trừ hay ít ra giảm bớt những nỗi đau tinh thần cũng như đau đớn thể xác. Ở đây, khi đặt đau khổ đối diện với niềm hy vọng Kitô giáo, Đức Bênêđictô XVI muốn chúng ta tránh khỏi ảo vọng của một cuộc trốn chạy hay t́m cách loại trừ đau khổ. Dĩ nhiên chúng ta phải làm hết sức để vượt thắng đau khổ, nhưng cũng cần phải chấp nhận một thực tế là “việc loại bỏ hoàn toàn đau khổ ra khỏi thế giới này nằm ngoài tầm tay chúng ta - đơn giản là v́ chúng ta không thể rũ bỏ thân phận hữu hạn của ḿnh - và v́ không ai trong chúng ta đủ khả năng khai trừ quyền lực của sự dữ, của tội lỗi, vốn luôn là nguồn gốc của đau khổ”. Thật vậy, không chỉ chịu đắng cay với những nỗi đau gắn liền với kiếp người mong manh đầy giới hạn, con người rơ ràng đă bất lực trước những đau khổ cứ măi gia tăng theo khối luợng tội lỗi không ngừng chồng chất thêm theo ḍng lịch sử. Tuy nhiên, niềm hy vọng cho một nhân loại có thể được chữa lành đă bừng dậy khi Thiên Chúa đích thân bước vào lịch sử khi làm người và chịu đau khổ để giải cứu con người. Tin tưởng vào Đấng có quyền năng “xóa tội trần gian”, chúng ta có quyền hy vọng và can đảm đứng về phía sự thiện để giảm trừ tội lỗi và chiến đấu chống sự dữ (x. SS 36).

Nếu tội lỗi xuất hiện như một quyền lực gây kinh hoàng, th́ t́nh yêu luôn biểu dương sức mạnh tạo nên niềm hy vọng được chữa lành nhờ Đức Kitô, Đấng đă đau khổ với một t́nh yêu vô biên dành cho các tội nhân. V́ thế, chỉ nhờ kết hiệp với Đấng đă tự nguyện chịu đau khổ v́ loài người và cho loài người để cứu độ loài người, chúng ta mới có được khả năng chấp nhận khổ nạn và trưởng thành trong gian truân khi hiểu được ư nghĩa của những khổ đau trong đời.

Nếu tránh né khổ đau là điều bất khả thực thi, nếu đào thoát trước những nhọc nhằn và đau khổ của cuộc chiến đấu cho sự thật, t́nh yêu và sự thiện, là điều tồi tệ hơn v́ sẽ dẫn đến một cuộc sống trống rỗng, vô nghĩa, tăm tối và cô độc, th́ điều cần làm là hăy học cách biến đổi khổ h́nh thành Thánh Giá bằng chính năng lực của t́nh yêu. Thánh Tử đạo Phaolô Lê Bảo Tịnh đă hiểu được điều này khi thả “chiếc neo của trái tim đến tận ngai toà Thiên Chúa” giữa cơn băo táp bách hại, đă nh́n thấy “ánh sao hy vọng” dù đang ở giữa ḷng “hỏa ngục”, đă biến đau khổ thành bài ca ngợi khen nhờ sức mạnh của niềm hy vọng phát sinh từ đức tin (x. SS 37).

Cũng chính t́nh yêu - Đức Thánh Cha gọi đó là “thước đo nhân tính” - sẽ xác định mức độ trưởng thành của từng người cũng như toàn xă hội trong tương quan với đau khổ và với người đau khổ. Theo Đức Bênêđictô XVI, “một xă hội không chấp nhận được những người đau khổ và không có khả năng chia sẻ cũng như mang lấy đau khổ của họ trong tâm hồn bằng sự đồng cảm, là một xă hội độc ác và vô nhân đạo”. Niềm an ủi (con-solatio) không ǵ khác hơn là sự hiện-diện-với-người-đang-cô-đơn trong đau khổ để người ấy không c̣n đơn độc, Hơn nữa, hiện-diện-với cũng có nghĩa là ra khỏi cái tôi ích kỷ, là hy sinh tiện nghi và an toàn của riêng ḿnh để chấp nhận đau khổ v́ t́nh yêu dành cho sự thiện, sự thật và công b́nh, không để cho bạo lực và gian trá lên ngôi. Như thế, chính trong đau khổ mà chúng ta chẳng những học biết nói lời “xin vâng” với t́nh yêu khi chấp nhận chịu cắt tỉa và mang thương tích để trưởng thành trong t́nh yêu, mà c̣n có thể trở nên “người” hơn khi biết đau khổ với tha nhân và v́ tha nhân, đau khổ v́ sự thật và công b́nh. (x. SS 38).

Tuy nhiên, dù đă biết t́nh yêu, tha nhân, chân lư và công b́nh, là những yếu tố nền tảng của nhân tính, nhưng một lúc nào đó trong tâm trí chúng ta có thể bật lên những câu hỏi: Liệu tha nhân có đủ quan trọng đến mức tôi phải trở thành người chịu đau khổ v́ họ không? Đối với tôi chân lư có quan trọng đến nỗi phải trả giá bằng đau khổ không? Lời hứa của t́nh yêu có cao cả đến độ biện minh được cho việc dâng hiến bản thân tôi không? Đây quả là những nghi ngại có thể khiến nhiều người chối từ đau khổ. Nhưng thật ra lư do để chúng ta có thể chịu đau khổ ở tầm mức cao cả như thế đă được giải tŕnh trong niềm tin Kitô giáo. Thật vậy, nếu nghĩ về tha nhân, chúng ta hăy nhớ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu để thấy con người có giá trị lớn lao đến độ Thiên Chúa đă làm người để có thể đau khổ thực sự với con người; khi nói về sự thật, công b́nh và t́nh yêu, chúng ta lại thấy ngay cả Thiên Chúa, v́ t́nh yêu và v́ chân lư, đă chấp nhận đau khổ v́ chúng ta và với chúng ta, đă muốn hiện-diện-với để an ủi con người trong mọi nỗi đau khổ.

T́nh yêu đồng cảm của Thiên Chúa đă lại làm bừng lên niềm hy vọng. Khi đau khổ chỉ là những thử thách nhỏ nhặt thường ngày, th́ niềm hy vọng vào những giúp đỡ nhân loại có thể đă đủ để an ủi, để chữa lành, hay để giúp chúng ta vượt qua khủng hoảng, nhưng khi đau khổ trở thành thử thách thực sự nặng nề, khi phải có một quyết định can đảm để bảo vệ chân lư, công bằng hay t́nh yêu chắc chắn chúng ta phải cần đến niềm hy vọng đích thực và cao cả đặt vào tận t́nh yêu của Thiên Chúa. Đây chính là niềm hy vọng đă làm nên sức mạnh phi thường cho các thánh chứng nhân tử đạo trong chọn lựa cuối cùng giữa sự sống và cái chết. Theo Đức Thánh Cha, khả năng chịu đau khổ của chúng ta “tùy thuộc vào loại h́nh và tầm mức của niềm hy vọng mà ta mang trong ḷng và dựa trên đó để xây dựng cuộc đời chúng ta”.V́ thế, chúng ta sẽ phải học cách mến chuộng điều thiện hơn những tiện nghi dễ dăi, ngay cả trong những chọn lựa nho nhỏ trong cuộc sống hằng ngày, v́ “biết rằng chỉ như thế, chúng ta mới thực sự sống cuộc đời ḿnh. Chúng ta có thể làm được điều này khi noi gương các thánh, những con người v́ đă đầy tràn niềm hy vọng lớn lao, nên đă có thể hoàn tất cuộc hành-tŕnh-làm-người theo cách thức mà Đức Kitô đă thực hiện trước chúng ta (x. SS 39).

Nhân nói đến đau khổ, Đức Thánh Cha cũng muốn đề cập đến việc “hiệp dâng”, một thực hành đạo đức phát xuất từ ước muốn liên kết những lao nhọc nhỏ bé hằng ngày vào cuộc khổ nạn của Đức Kitô. Tuy đă có những điểm đi đến thái quá hay có khi lệch lạc, nhưng dù sao đây cũng là một thực hành mang lại nhiều ơn ích thiêng liêng. Thật vậy, khi xin được “đồng chịu khổ nạn” với Đấng Cứu thế, chúng ta đă làm cho những đau khổ dù là bé nhỏ hằng ngày có được một ư nghĩa cao đẹp hơn, đồng thời cũng góp phần vào công cuộc mang lại ơn phúc, củng cố t́nh yêu thương đối với mọi người (x. SS 40).

Lời kêu cứu giữa biển khơi

Chuyến đi dài không sao tránh khỏi những bất trắc, và giữa cơn nguy hiểm, c̣n ǵ hy vọng hơn khi biết tín hiệu cầu cứu của ḿnh đă có người nghe thấy? Nếu có một lúc nào đó, khi hành động đă hoàn toàn thất bại, khi đau khổ đă trở thành cùng cực, khi những hy vọng vào con người đă tắt ngúm, khi cô đơn đă xâm chiếm toàn bộ tâm tư, khi không c̣n ai bên cạnh, khi tưởng như không c̣n ǵ để trông mong, không c̣n đâu để bám víu, th́ đừng quên chúng ta vẫn c̣n có Thiên Chúa để thưa chuyện và lắng nghe. Nói cách khác, khi hoàn cảnh bên ngoài đă “hoàn toàn tuyệt vọng”, như một lúc nào đó trong cuộc đời Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, th́ vẫn c̣n đó một Đấng hằng yêu thương chúng ta, vẫn c̣n lại ḍng sức mạnh cuối cùng đến từ “những lời nguyện hy vọng” (SS 32).

Cầu nguyện là t́m đến gặp gỡ Thiên Chúa,và cầu nguyện cũng chính là hy vọng. Thật vậy, mỗi lần cầu nguyện là mỗi lần tâm hồn chúng ta lại được khai mở và củng cố thêm trong nỗi khát vọng vô biên hướng về Thiên Chúa, là chúng ta lại được trao ban nguồn sức mạnh thường hằng của t́nh yêu đến từ Thiên Chúa, và v́ thế, đây cũng là điểm tựa cuối cùng trên đường đời có quá nhiều rủi ro trắc trở.

Thánh Augustinô đă mô tả cầu nguyện như một thực tập của khát vọng. Bởi cầu nguyện không ǵ khác hơn là bày tỏ những điều ḿnh mong ước, mà ước mong cũng có nghĩa là c̣n phải đợi chờ, và chúng ta chỉ đợi chờ khi c̣n hy vọng, nên càng cầu nguyện, chúng ta càng học được cách sống niềm cậy trông. Theo thánh Augustinô, giáo tŕnh này do chính Thiên Chúa thực hiện với cả một phương thức sư phạm tuyệt vời để dẫn ta từng bước gặp được chính Ngài. Thật vậy, khi để ta đợi chờ, Ngài khơi thêm nỗi khao khát, khi để ta khao khát, Ngài mở rộng ḷng ta, khi mở rộng ḷng ta, Ngài tạo thêm khả năng tiếp nhận, để trái tim ta có đủ chỗ cho Thiên Chúa và và cho cả tha nhân.

Trong thực hành, khi cầu nguyện, chúng ta không rời khỏi thế giới đang sống hay thu ḿnh vào một góc nhỏ hạnh phúc riêng tư, nhưng luôn đặt ḿnh trước Thiên Chúa là Cha và nắm chặt tay mọi người anh em. Với cách cầu nguyện như thế, niềm hy vọng sẽ dần dần được “thanh luyện”, vượt khỏi những mong mỏi nhỏ nhen tầm thường để học cách nhận ra những điều “xứng đáng với Thiên Chúa”, không ích kỷ xin điều ǵ “chống lại tha nhân” để học cách thực hiện ước mơ về một gia đ́nh nhân loại hạnh phúc hơn, không trú ẩn trong những giả dối về chính ḿnh và ảo tưởng về thế giới để thức tỉnh lương tâm khi đối diện với Thiên Chúa, với sự Thiện tuyệt đối (x. SS 33).

Ngoài ra, giờ cầu nguyện phải vừa mang tính cá nhân trong cuộc trao đổi tâm sự của riêng mỗi người với Thiên Chúa, vừa mang tính cộng đoàn khi tỏ bày tâm tư bằng những lời kinh chung của Phụng vụ Giáo hội. Khi đó, lời cầu nguyện bé nhỏ tầm thường của chúng ta sẽ hoà chung vào lời kinh vĩ đại của toàn Giáo hội.

Như vậy, để có thể cầu nguyện thực sự, chúng ta cần học biết cách thân thưa với Chúa và biết hiểu cách Chúa nói với chúng ta, thực tập cách mở ḷng ra với Chúa và cách làm “thừa tác viên của hy vọng cho tha nhân” , một niềm hy vọng tích cực, không chỉ xuất hiện trong lời cầu xin, nhưng c̣n tạo sức mạnh thúc đẩy chúng ta dấn thân trong hành động để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ con người (x. SS 34).

Lần cập bến cuối cùng

Lời kinh Tin kính tuyên xưng Đức Kitô “sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết”, đă nhắc người tín hữu nh́n thẳng về phía cuối chặng đường lịch sử của cả nhân loại. Viễn ảnh về ngày “Chúa lại đến” đă hướng các kitô hữu nh́n về phía trước. Cái nh́n về tương lai đó giúp cho con người thấy được tầm quan trọng của hiện tại. Giữa ḷng vũ trụ và trên suốt quăng đường dài của lịch sử nhân loại, người tín hữu hướng về Đức Kitô quang lâm, Đấng đă đến để cứu độ và sẽ trở lại để phán xét con người về trách nhiệm đối với cuộc sống.

Những suy tư về cuộc phán xét chung thẩm thường vẫn xoay quanh vấn đề công b́nh. Chúng ta đừng để bị lung lạc bởi những chủ thuyết nhân danh công b́nh, hay đúng hơn dựa vào thực tế c̣n đầy bất công của thế giới loài người để truất phế Thiên Chúa và tự phụ cho rằng “con người có thể và phải làm điều mà Thiên Chúa không làm hay không thể làm” (SS 42). Đức Thánh Cha nhắc nhở chúng ta hăy xác tín rằng Thiên Chúa hiện hữu và Thiên Chúa biết thiết lập công b́nh theo cách thế của Ngài. Cách thế đó chúng ta không h́nh dung nổi, nhưng có thể cảm nhận trong mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, Đấng đă chịu đóng đinh và đă sống lại: đúng là có sự phục sinh thân xác, có công b́nh, có “dấu tích” của khổ nạn và có sự chỉnh sửa để phục hồi điều ngay chính. Như thế, chúng ta có thể khẳng định rằng: v́ bất công trong lịch sử không thể là tiếng nói cuối cùng nên việc Đức Kitô trở lại để đưa nhân loại đến sự thành toàn và mang lại sự sống mới trong t́nh yêu vĩnh cửu là điều chắc chắn cần thiết. Duy chỉ Thiên Chúa mới có thể thiết lập công b́nh thực sự, v́ thế, “trước hết và trên hết, tin vào phán xét chính là hy vọng” (SS 43).

Những ǵ mà vị Thẩm phán tối cao sẽ tra vấn trong cuộc phán xét về những ǵ chúng ta đă làm và đă không làm, quả thật đă nên “như tiêu chuẩn để tổ chức đời sống hiện tại, như lời mời gọi lương tâm, và đồng thời như niềm hy vọng vào sự công b́nh của Thiên Chúa” (SS 41).

Tự do và trách nhiệm. Theo Đức Bênêđictô XVI, “h́nh ảnh cuộc chung thẩm không phải là h́nh ảnh gây khiếp sợ nhưng là h́nh ảnh gieo hy vọng, và đối với chúng ta, có lẽ là h́nh ảnh quyết định của hy vọng”. Những h́nh ảnh đó thật ra muốn nhắc nhở chúng ta ư thức về những trách nhiệm mang tính luân lư, trách nhiệm đối với cuộc sống của chính ḿnh để tâm hồn không bị biến dạng bởi bất cứ ảnh hưởng nào của sự dữ, trách nhiệm đối với tha nhân để đừng tạo một vực sâu không thể qua được, trách nhiệm phải làm cho thành toàn đời ḿnh, bởi một ngày nào đó linh hồn sẽ phải tŕnh diện “trần trụi” trước vị Thẩm phán. Bấy giờ, điều quan trọng không hệ tại ở chỗ chúng ta “đă là ai” trong lịch sử nhưng ở chỗ chúng ta “thực sự là ǵ” trước mặt Chúa (x. SS 44).

Lương tâm và thiện ư. Tất cả sẽ chịu phán xét, nhưng trước khi bản án cuối cùng được ban hành, chúng ta biết rằng c̣n có giai đoạn giữa cái chết và cuộc phục sinh của thân xác. Dụ ngôn người phú hộ và người ăn mày đă gợi lên những ư tưởng liên quan đến t́nh trạng trung gian này: trong cuộc đời tại thế, con người c̣n giờ để chọn lựa cách sống của ḿnh, với cái chết, sự lựa chọn đă mang tính quyết định, và trong cuộc phán xét riêng, mỗi người sẽ trả lời với vị Thẩm phán về chính cuộc sống của ḿnh. “Thiên đàng”, “hỏa ngục” hay “luyện ngục” là những kết quả khác nhau tùy theo cách sống mỗi người đă thực hiện. Có những người đă để cho t́nh mến Chúa yêu người điều hướng toàn bộ cuộc đời, nên được hiệp thông với Thiên Chúa sẽ là hạnh phúc viên măn đến từ những ǵ họ đă có sẵn trong đời. Đối với những người đă chọn cho ḿnh lối sống giả dối, thù hận, chà đạp t́nh yêu, những người đă triệt hạ khát vọng chân lư và phá hủy hoàn toàn khả năng yêu thương nơi chính ḿnh, hỏa ngục là điều không thể tránh khỏi như kết quả của việc tàn phá sự thiện đến độ “vô phương cứu chữa”. Trong khi đó, có rất nhiều người từ tận thâm tâm vẫn thật ḷng cởi mở với chân lư, với t́nh yêu và với Thiên Chúa, thế nhưng, trong những chọn lựa cụ thể của cuộc đời, sự cởi mở đó “vẫn cứ bị phủ lấp bằng những thoả hiệp với sự dữ”. Họ đă để đời ḿnh vương bẩn, nhưng đă không đánh mất niềm khát vọng sống tốt lành, họ đă từng thất bại, nhưng vẫn c̣n giữ được khát vọng để vươn lên. Một cách nào đó, họ đă không thành công trong việc xây dựng cuộc đời, nhưng họ vẫn c̣n giữ được chính ḿnh trên nền tảng vững bền là Đức Kitô. Họ sẽ được cứu, nhưng phải được thanh luyện, theo kiểu nói của đoạn thư 1 Cr 3,12-15, “như thể băng qua lửa” để trở nên hoàn toàn có khả năng tiếp nhận Thiên Chúa và có thể tham dự tiệc cưới vĩnh cửu. Theo một số nhà thần học, ngọn lửa này không ǵ khác hơn là t́nh yêu của Đức Kitô, vị Thẩm phán chí công đồng thời cũng là Đấng cứu độ đầy yêu thương. Trong khi ánh mắt công b́nh sẽ làm lộ diện những công việc mà giá trị chỉ là rơm rạ, th́ trái tim yêu thương sẽ thiêu đốt chúng ta lúc đó nhận biết rơ ràng là ḿnh đă sống bất xứng với t́nh yêu. Ngọn lửa từ cuộc khổ nạn của Đức Kitô sẽ thanh luyện chúng ta hết những hoen ố, biến đổi chúng ta trong quyền năng thánh thiện của T́nh yêu Chúa, giúp chúng ta cuối cùng “được hoàn toàn là chính ḿnh và nhờ đó hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa”. C̣n về “thời hạn” chịu thiêu đốt để được biến đổi, chắc chắn chúng ta không thể nói với cách tính tháng ngày của trần thế, cũng như “thời điểm” của cuộc biến đổi không thể xác định bằng giờ giấc trên mặt số đồng hồ. Có thể nói thời gian luyện ngục phải đủ cho trái tim mỗi người có thể làm cuộc “vượt qua” để bước vào T́nh yêu đời đời của Thiên Chúa (x. SS 46).

Công b́nh và ân sủng. Một lần nữa, ngay trên lănh địa của sự chết, của những ǵ có thể làm chúng ta sợ hăi nhất, th́ chính T́nh yêu lại có mặt để làm rực sáng lên niềm hy vọng. Cuộc phán xét của Thiên Chúa là hy vọng bởi lẽ cuộc phán xét đó vừa là công b́nh vừa là ân sủng. Thiên Chúa là công b́nh và lập nên công b́nh, nhưng trong công b́nh của Thiên Chúa lại có ân sủng.

Dĩ nhiên, chúng ta không được ngây thơ để nghĩ rằng ân sủng sẽ hủy bỏ công b́nh. Không, ân sủng không biến sai trái thành ngay thẳng, không san bằng giá trị của từng điều tốt xấu, không để thủ phạm ngồi cạnh nạn nhân “như thể không có chuyện ǵ xảy ra”. Phải có công b́nh khi tất cả được phơi bày, khi tất cả mọi giả dối đều tan biến trước cái nh́n của vị Thẩm phán; nhưng nếu chỉ có công b́nh th́ quả thật chúng ta chỉ c̣n biết run sợ và thất vọng v́ nếu Chúa chấp tội th́ nào có ai đứng vững được. Ngược lại, nếu phán xét chỉ là ân sủng, th́ những ǵ diễn ra trên trần thế sẽ trở thành vô nghĩa, v́ rốt cuộc việc xấu tốt đều có cùng giá trị như nhau; nhưng Thiên Chúa có cách để nối kết công b́nh và ân sủng. Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa làm người, công b́nh và ân sủng thấm nhập vào nhau chặt chẽ đến độ công b́nh vẫn được thiết lập đồng thời ân sủng vẫn được trao ban. V́ thế, nếu ư nghĩ về công b́nh làm cho chúng ta chỉ dám mong đợi ơn cứu độ “trong nỗi kính sợ Thiên Chúa và run rẩy” (Pl 2,12), th́ ân sủng lại cho phép chúng ta hy vọng và bước đi đầy ḷng tín thác, đến gặp vị Thẩm phán đồng thời cũng là “trạng sư” của chúng ta (x. SS 47).

Liên đới và thông hiệp. Cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện ngục là một thực hành phổ biến trong Giáo hội, là một kinh nghiệm đầy an ủi khi chúng ta xác tín rằng t́nh yêu có thể vươn tận đến thế giới bên kia cũng như mối dây yêu thương có thể vượt qua ranh giới của sự chết để nối kết người c̣n sống và kẻ đă qua đời. Khả năng hiệp thông này dựa trên chính mối tương quan liên vị và trách nhiệm liên đới giữa con người với nhau trong cuộc sống nhân sinh hiện tại. Thật vậy, không ai là một đơn tử khép kín, không ai sống một ḿnh, không ai không có trách nhiệm về tội lỗi, cũng không ai được cứu độ một ḿnh. Tôi và tha nhân đều có liên quan trong suy nghĩ, nói năng và hành động, trong sự dữ cũng như trong sự lành. V́ thế việc tôi cầu nguyện cho người khác, ngay cả sau khi người ấy chết, là điều tôi có thể và cần làm. Chính hành vi hiệp thông này lại làm sáng tỏ thêm một yếu tố quan trọng của niềm hy vọng Kitô giáo mà Đức Thánh Cha vẫn muốn nhấn mạnh: “Niềm hy vọng của chúng ta chủ yếu vẫn luôn là hy vọng v́ người khác; và chỉ như thế mới sự là niềm hy vọng cho chính tôi. Trong tư cách kitô hữu, chúng ta đừng bao giờ chỉ biết hỏi “làm thế nào để tôi có thể cứu được chính ḿnh?” nhưng chúng ta c̣n phải hỏi “tôi phải làm ǵ để tha nhân có thể được cứu độ và để ngôi sao hy vọng có thể toả sáng trên họ? Đó cũng là lúc tôi làm hết sức cho ơn cứu độ của ḿnh” (SS 48).

Mẹ Maria, Ngôi sao hy vọng

Chúng ta có lẽ không biết ngôi sao nào là “ngôi sao biển”, nhưng có thể hiểu được sự an tâm của người đi biển khi c̣n nh́n thấy ánh sáng, dù có khi chỉ là điểm sáng nhỏ, của một ngôi sao quen thuộc nào đó trong bầu trời đêm. An tâm v́ c̣n nh́n thấy ánh sao là c̣n có thể nhận ra phương hướng, nên chỉ một chấm sáng thật nhỏ cũng đă đủ để thắp rực lên cả một trời hy vọng.

Đoạn kết của Thông điệp “Spe salvi” được viết như một lời nguyện hướng về Đức Maria, người đă nói lời “xin vâng” tuyệt vời nhất trong lịch sử, lời đă mở cánh cửa thế giới cho Thiên Chúa đi vào, và đă chắp cánh cho con người trong hy vọng t́m về với Thiên Chúa.

Đức Maria, người đă cùng Con-Thiên-Chúa-T́nh-yêu-nhập-thể đem lại cho nhân loại niềm hy vọng cao cả, và là người đang cùng Giáo hội “mang trong ḿnh niềm hy vọng của thế giới ngang qua những dăy núi đồi của lịch sử”.

Đức Maria, người đă thông dự vào công tŕnh Cứu Thế và đă hiểu thế nào là chống đối và khước từ, thế nào là đau khổ tột cùng của thập giá, người đă trải qua những giây phút nghẹt thở nhất của niềm hy vọng: phải chăng Vương quốc của T́nh yêu có thể bị kết thúc trước khi được khởi sự? Dáng h́nh Mẹ dưới chân thánh giá trên đồi Sọ vẫn luôn là h́nh ảnh tuyệt vời của người đă vượt thắng khổ đau.

Đức Maria, người Mẹ của Hy vọng, người đă vượt bóng đen của hai đêm Khổ nạn để đến gặp buổi sáng Phục sinh, người đă cùng cầu nguyện với các môn đệ, người đă có mặt trong ngày Giáo hội lên đường đi khắp thế giới để dựng xây Nước Thiên Chúa.

“Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa và cũng là Mẹ chúng con, xin dạy chúng con biết tin tưởng, hy vọng và mến yêu với Mẹ. Xin chỉ cho chúng con nẻo đường đến Nước Chúa. Lạy Mẹ là Ngôi Sao Biển, xin chiếu sáng chúng con và hướng dẫn chúng con trong cuộc lữ hành trần thế” (SS 50).   ª

 

   H  Home page