SPE SALVI:

 

BA TÙ NHÂN, MỘT NIỀM HY VỌNG

 

 

Lm. Phaolô Nguyễn Luật Khoa, OFM

 

Dẫn nhập

        Giới trẻ ngày nay và vấn đề hy vọng: Duy lý, duy tâm, duy vật chất

Trước khi giải thích về đề tài Ba Tù nhân có chung một niềm hy vọng, mời bạn đi dạo một vòng thành phố. Chúng ta không đi dạo vì không có gì để làm, nhưng đi dạo thành phố để quan sát xem chuyện gì, hiện tượng nào và phong trào chi đang lôi cuốn người dân thành phố nói chung và giới trẻ ngày nay nói riêng. Có lẽ chúng ta không thể nào không nhận ra ba hiện tượng quá hiển nhiên đang xảy ra trong thành phố chúng ta qua nhiều năm nay. Đó là các hiện tượng xin visa đi nước ngoài, phong trào học ngoại ngữ và vi tính, và chuyển động trục Bắc Nam.

Có bao nhiêu tòa lãnh sự đang có mặt trong thành phố, nhưng tòa lãnh sự nào có nhiều người đến xin visa nhất? Họ xin visa để làm gì?

Có bao nhiêu trường đại học và trung học chuyên nghiệp hay trung tâm ngoại ngữ trong thành phố, và có bao nhiêu bạn trẻ đang theo học các khoa ngoại ngữ và vi tính cả ngày lẫn đêm?

Có bao nhiêu khu công nghiệp, công ty, xí nghiệp, cơ sở sản xuất trong thành phố? Và có bao nhiêu công nhân là người địa phương và bao nhiêu anh chị em công nhân là người di dân?

Nếu quan sát ba hiện tượng này và đi tìm câu trả lời cho ba hiện tượng này, có lẽ tất cả chúng ta đều nhận chân ra rằng người dân và đặc biệt là giới trẻ ngày nay đang hy vọng có một cuộc sống đầy đủ về mặt giáo dục và vật chất hơn. Họ đang hy vọng vào một học vị, một chuyên môn để có một công việc nào đó khả dĩ đảm bảo cho tương lai của họ. Họ đang hy vọng một cuộc sống sung túc hơn ngày mai. Họ đang ao ước định cư ở một miền đất mà nơi đó, họ kiếm được công ăn việc làm ổn định, tương lai của gia đình họ được đảm bảo. Đây là một mơ ước quá đẹp và quá người. Có ai trong chúng ta mà không có những mơ ước, những niềm hy vọng thật người này? Như thế, chúng ta có thể nhận ra ba hiện tượng: 1) Hiện tượng visa: Con người hy vọng một cuộc sống khá hơn. 2) Hiện tượng giáo dục: Các bạn trẻ hy vọng học vi tính và ngoại ngữ để có một công việc làm trong tương lai. 3) Hiện tượng di dân: Theo trục Bắc Nam. Các bạn trẻ hy vọng có một nghề nghiệp trong hiện tại.

Nói chung, tất cả mọi người đều hy vọng, đều mơ ước, đều khao khát “ngày mai sáng sủa hơn ngày hôm nay” về mặt kinh tế lẫn giáo dục, về mặt an sinh lẫn xã hội. Nhưng trên thực tế, có thật là ngày mai sáng sủa hơn ngày hôm nay không? Có chắc là sau khi họ có thể nói được một ngôn ngữ nước ngoài cách thành thạo, có một công ăn việc làm ổn định, khi niềm hy vọng trong quá khứ của họ được thỏa mãn, họ không còn hy vọng nào nữa không? Hay tất cả những niềm mơ ước trong hiện tại của các bạn trẻ “bão” đi từ một hoài bão này đến một hy vọng kia, và khi “chợt tỉnh ra”, bạn lại ý thức là mọi hy vọng của bạn đều được xây dựng trên một niềm hy vọng ảo, một “tương lai không tưởng vì những gì họ đặt hy vọng vào lại không xây dựng trên nền tảng vĩnh cửu?”

Vấn nạn này được đặt ra vì phải chăng các quốc gia Âu châu và Mỹ châu là thiên đàng trần thế, là nơi mà mọi niềm hy vọng của bạn sẽ được hoàn tất? Nói được các ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật và giỏi vi tính có mang lại cho bạn một hạnh phúc đích thật hay không? Có được mức lương 10 triệu một tháng có thật sự làm cho bạn hài lòng với những gì bạn đang có trong tầm tay hay không? Hay khi có được 10 triệu này, bạn lại hăm hở và cật lực lao vào “những triệu” khác? Phải chăng các bạn trẻ ngày nay đang bước đi “từ hư vô này, .... vào hư vô khác” (SS 2) vì như Spe salvi nhận định “bất cứ ai hứa hẹn một thế giới tốt đẹp hơn và bảo đảm thế giới ấy sẽ tồn tại mãi, đều là kẻ hứa hão” (SS 24). Như thế, Spe salvi không phải là một bức tâm thư cho các dân tộc Âu và Mỹ châu, hay chẳng liên quan gì đến người dân trong thành phố này, nhưng tích hợp ba hiện tượng trên với vấn đề Spe salvi đặt ra, chúng ta có thể đi tiếp vào nội dung của Spe salvi.

Thông điệp đưa ra vấn đề phổ quát và hoàn vũ và vấn đề này cũng đang cọ xát với người dân thành phố. Ngày nay chủ thuyết văn minh và tiến bộ đã dẫn con người đi từ hư vô này đến hư vô khác. Triết gia Francis Bacon đã đề xướng tương quan giữa thực nghiệm và phương pháp, khoa học và thực hành (SS 16). Ông đề xuất “niềm tin vào tiến bộ” (SS 17). Sau đó, Friedrich Engels và Karl Marx đã ứng dụng “niềm tin vào tiến bộ này” trong lãnh vực kinh tế (SS 21). Ba hiện tượng đang xảy ra tại thành phố vừa nêu trên đã được Bacon tiếp thị theo khẩu hiệu “con người được cứu chuộc nhờ khoa học” (SS 25). Khẩu hiệu này đang được các bạn trẻ ngày nay lao vào mà không một chút động não. Nhưng nếu động não theo kiểu Immanuel Kant, các bạn trẻ lại mải mê với một “niềm tin thuần lý” khác mà qua đó, “thuyết duy lý triết học đã đóng khung các thần linh vào trong phạm vi phi thực tại” (SS 19 và 5). Nếu như thế niềm hy vọng Kitô phi thực tại, phi xác thể hay sao?

Thay vì “bão” theo một niềm hy vọng phi thực tại, không tưởng dựa vào một tương lai không tưởng, xin đề nghị với các bạn một niềm hy vọng dựa vào ba chứng nhân, ba tù nhân. Niềm hy vọng của một tù nhân đã tự thú rằng chính tù nhân này đã “hăng say thỏa mãn mọi khoái lạc hạ cấp và dám để cho mình buông theo mọi thứ tình yêu tăm tối”.[1] Sau đó, tù nhân này nhận chân rằng “nhục dục nhơ nhớp và sự bồng bột của tuổi xuân xông lên ... dìm con xuống vực thẳm của các nết xấu. ... Sự dâm đãng đã làm cho con dao động, xiêu té, phung phí và tiêu tan sức lực”[2]. Một bạn trẻ Phi châu sa đọa dâm đãng, nhưng sau đó, bạn trẻ này, tù nhân này đã chọn một niềm hy vọng khác. Một tù nhân Phi châu đã trở thành một thánh nhân. Cùng niềm hy vọng với tù nhân Phi châu này, một tù nhân Âu châu đã dám chấp nhận nhiều mũi dùi tấn công từ trong ra và từ ngoài vô với một hy vọng “quy Kitô”. Và cũng chính niềm hy vọng của tù nhân Phi châu và Âu châu này đã “dưỡng nuôi và thay đổi” một tù nhân khác, một tù nhân Á châu, khi tù nhân này đang cầu nguyện cho tổng giáo phận của mình từ trong ngục tù.

Tuy cả ba tù nhân này có rất nhiều khác biệt về văn hóa, dân tộc và ngôn ngữ, nhưng cả ba tù nhân này đều là ba nhân chứng Kitô. Cả ba cùng sống đức tin của mình trong những thăng trầm của lịch sử dân tộc mình, và cả ba đều có chung một niềm hy vọng Kitô, bởi vì đức tin của ba tù nhân là “đức cậy vừa dưỡng nuôi và vừa thay đổi” họ.

Niềm hy vọng Kitô này đã dưỡng nuôi anh thanh niên Phi Châu sa đọa và tội lỗi Augustinô. Niềm hy vọng Kitô này đã dưỡng nuôi người Kitô hữu vùng Bavaria, Jospeh Ratzinger cho dù bị tấn công tứ phía. Và niềm hy vọng Kitô này cũng đã dưỡng nuôi tổng giám mục hiệu tòa Vadesi, tổng Giám mục phó với quyền kế vị, Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Không những niềm hy vọng của ba tù nhân này đã dưỡng nuôi mà còn thay đổi cuộc đời của họ. Niềm hy vọng này đã thay đổi cuộc đời anh thanh niên dâm dật Augustinô cách tận căn. Thay đổi tù nhân Nguyễn văn Thuận cách triệt để. Với ba tù nhân và chứng nhân hy vọng này, ngày hôm nay, xin đề nghị với các bạn một niềm hy vọng với bao bì Kitô, với nhãn hiệu Giêsu, với thương hiệu thập tự giá, và với một mầu nhiệm xác thể vinh quang.

Niềm hy vọng Kitô này mang 3 đặc tính: Sentire cum ecclesia, Deus totus ubique và Sola Spe salvi.

Ba tù nhân này là ai?

Trên đây là sơ lược về ba tù nhân Augustinô, Joseph Ratzinger và Nguyễn Văn Thuận. Giờ đây, chúng ta đi vào lịch sử cuộc đời của họ để lột tả niềm hy vọng Kitô của họ. Hy vọng rằng khi bước vào mảnh đất lịch sử đời tư của họ, chúng ta càng xác tín với nhau rằng, niềm hy vọng Kitô có cơ sở lịch sử và như thế, đáng cho các bạn ngoài Kitô giáo lưu ý đến, đáng cho các bạn trẻ quan tâm đến. Nhờ ba chứng nhân hy vọng này, chúng ta có thể khẳng định rằng niềm hy vọng Kitô có gốc rễ ngay trong lòng đất Phi châu, Âu châu và Á châu. Niềm hy vọng Kitô mang tính phổ quát và hoàn vũ.

Augustinô thành Hippo (13 tháng 11, 354 – 28 tháng 8, 430) là công dân miền bắc Phi châu, hiện nay thuộc Algeria.

Mẹ của Augustinô, Monica, là người Kitô hữu. Bố là Patricius không phải là Kitô hữu. Augustinô có một người em trai, Navigius, và một người chị. Augustinô đã sống với cô bạn gái 15 năm và có một người con với cô ta. Người con trai ấy tên là Adeodatus. Năm 386 là năm hoán cải. Augsutinô được rửa tội tại Milan ngày 24 tháng 4, 387, lúc ấy 33 tuổi, nhằm lễ vọng Phục Sinh. Sau đó làm linh mục và giám mục thành Hippo.

Di sản tri thức

Augustinô đã viết hơn 300 lá thư và 600 bài giảng. Sau 40 năm giảng dạy có đến khoảng 3.000 đến 4.000 luận văn. Cuốn Thành Đô Thiên Chúa gồm có 22 tập được viết khoảng năm 413 đến 426. Tác phẩm Ba Ngôi gồm có 15 tập, được viết giữa năm 399 đến 412. Cuốn Tự Thuật gồm 13 tập.

Thánh Augustinô đã chống lại các lạc thuyết như Manichaenism. Lạc thuyết này do Manes 215-276, người Ba Tư sáng lập. Họ quan niệm rằng nhân tính của Đức Giêsu Kitô chỉ là ảo. Lạc thuyết Donatistism do Donatus 313-347 thành lập và cho rằng người phạm tội không còn là phần tử của Giáo Hội. Lạc thuyết Arianism do Arius phát động cho rằng Chúa Cha và Chúa Con không đồng bản tính.

Tù nhân

Thứ nhất, Augustinô được gọi là tù nhân vì chính thời gian sống trong tội lỗi. Thứ hai, khi Augustinô qua đời vào ngày 28 tháng 8 năm 430. Nhưng trước đó, vào tháng 5 hay tháng 6 năm 430, những người man rợ Vandals đã tấn công và bao vây thành Hippo. Như thế, ngay trên giường bệnh và thời gian gần qua đời, tất cả dân thành Hippo trong đó có cả Augustinô đều là tù nhân của những người Vandals. Augustinô chống lại nhóm này vì họ liên quan đến lạc thuyết Arianism. Augustinô chết ngay lúc nhóm này phá vỡ thành Hippo. Sau khi chiếm Hippo, họ đã tàn phá tất cả ngoại trừ nhà thờ chính tòa và thư viện của Augustinô.

Joseph Ratzinger - công dân Đức, Âu châu

Sinh ngày 16 tháng 4 năm 1927 và được rửa tội cùng ngày, thứ bảy tuần thánh tại làng Marktl am Inn. Linh mục Công giáo khi mới 24 tuổi vào ngày 29 tháng Sáu năm 1951. Tổng Giám mục Munich-Freising ngày 25 tháng 5 năm 1977. Hồng y Bộ trưởng bộ Tín Lý năm 1981, và Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI năm 2006.

Di sản tri thức

Hai văn bằng tiến sĩ, đề tài: People and House of God in St. Augustine’s Doctrine of the Church năm 1953 tại đại học Munich và The Theology of History in St. Bonaventure năm 1957. Nghề nghiệp: Giáo sư và phó hiệu trưởng trường đại học Tušbingen đã viết hơn 85 cuốn sách và hơn 500 luận văn thần học.

Đức Giám mục thành Rôma Joseph Ratzinger này nhận được 7 Honoris Causa, Tiến sĩ danh dự của các trường đại học the College of St. Thomas in St. Paul, Minnesota năm 1984, the Catholic University of Lima năm 1986, the Catholic University of Eichstaštt năm 1987, the Catholic University of Lublin năm 1988, the University of Navarre năm 1998, tại the LUMSA (Libera Università Maria Santissima Assunta) of Rome năm 1999 và năm 2000, the Faculty of Theology of the University of Wroclaw tại Poland.

Tù nhân chiến tranh

Năm 1943, lúc ấy mới 16 tuổi, Ratzinger đã đi nghĩa vụ hai năm và đóng tại biên giới Hungary. Nhưng sau đó đã bị lính Mỹ bắt và bị giam gần Ulm. Tù binh chiến tranh.

Nguyễn Văn Thuận (17 tháng 4 năm 1928 – 16 tháng 9 năm 2002)

Công dân Việt Nam, Á châu, sinh tại Phú Cam, Huế.

Học tại tiểu chủng viện An Ninh, Quảng Trị và Đại chủng viện Kim Long, Huế. Ngày 11 tháng 6 năm 1953 chịu chức linh mục, cha phó xứ Phanxicô. Năm 1956, học giáo luật tại Rôma và 1959 nhận học vị tiến sĩ giáo luật.

Ngày 24 tháng 6, 1967 trở thành Giám mục Nha Trang với khẩu hiệu Gaudium et Spes, Vui Mừng và Hy Vọng. Ngày 9 tháng 4, 1994: Phó chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình. Ngày 24 tháng 6, 2000, Chủ tịch bộ Công Lý và Hòa Bình. Mùa chay 2000, giảng tĩnh tâm cho giáo triều Rôma. Ngày 21 tháng 2, 2001 trở thành Hồng Y. Qua đời ngày 16 tháng 9, 2002 tại Rôma.

Di sản tri thức

·        Đường Hy Vọng (1975)

·        Đường Hy Vọng dưới Ánh Sáng Lời Chúa và Công Đồng Vaticanô II (1979)

·        Những Người Lữ Hành trên Đường Hy Vọng (1980)

·        Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá

·        Cầu Nguyện

·        Hãy Trao Tặng Tuổi Trẻ Nụ Cười

·        Sứ Điệp Đức Mẹ La Vang

·        Chứng Nhân Hy Vọng

Tù nhân

Ngày 23 tháng 4 năm 1975, ngài được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục hiệu tòa Vadesi, Tổng giám mục phó tổng giáo phận Sài gòn với quyền kế vị. Từ ngày 15 tháng 8 năm 1975 cho đến ngày 23 tháng 11 năm 1988: 13 năm tù đày, với 9 năm bị biệt giam.

Ba tù nhân Kitô trí thức

Cả ba tù nhân, Augustinô một vài tháng tại Hippo trước khi qua đời, Joseph Ratzinger hai năm tại Ulm, Nguyễn Văn Thuận 13 năm. Cả ba tù nhân này đều bị giam ngay trên quê hương thân yêu của mình và cả ba tù nhân này cùng chung một niềm hy vọng Kitô.

Cả ba tù nhân này đều là nhà trí thức, yêu quê hương của mình, và người lãnh đạo tôn giáo. Đã là tù nhân, không ai mà không có niềm hy vọng có ngày được ra khỏi tù, được tự do. Nhưng ba tù nhân này lại xây dựng niềm hy vọng của họ trên một cơ sở khác với nền tảng của chúng ta, khác với niềm hy vọng của các bạn trẻ ngày hôm nay. Niềm hy vọng Kitô của họ không phải ra khỏi tù như những tù nhân khác thường hay mơ ước khi bị giam giữ. Tôi muốn đặt tên cho niềm hy vọng của ba tù nhân này Spe salvi. Đây là niềm hy vọng mà cha ông của họ là Phaolô và của mọi người Kitô đã được Đức thánh Cha Bênêđictô XVI giải thích cách thuyết phục trong Thông Điệp này.

Sau đây, tôi muốn đi vào mảnh đất Spe salvi để cùng phác họa lại cho các bạn bức tranh hy vọng mà cả ba tù nhân này đã sống. Trong phần chính này, tôi sẽ bước đi từ lịch sử đến thời gian và tri thức. Nghĩa là, khi đi vào mảnh đất Spe salvi, tôi muốn trình bày cho các bạn một mạch ngầm xuyên suốt, từ thánh Phaolô thành Tarsus đi ngang qua thánh Augustinô và Đức thánh Cha Bênêđictô XVI cho đến cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Mạch ngầm xuyên suốt ấy là “Spe salvi facti sumus”. Mạch ngầm sẽ được nghiên cứu dưới lăng kính Sentire cum ecclesia, Deus totus ubique và Sola spe salvi. Và đó là ba điểm chính trong bài chia sẻ “Ba tù nhân, một niềm hy vọng” của tôi.

Ba tù nhân và Spe salvi

Sentire cum ecclesia

Khi cầm lấy thông điệp để đọc, đầu tiên, chúng ta sẽ nghĩ đây là một bức tâm thư của một vị lãnh đạo tôn giáo đang sống bên Âu châu, chẳng liên quan gì đến chúng ta là người Việt Nam. Nhưng khi lần giở từng trang, ngấu nghiến từng chữ và tiêu hóa mớ kiến thức dày đặc trong Thông Điệp này, chúng ta sẽ không khỏi ngạc nhiên vì tên tuổi, tư tưởng và nhất là niềm tin của cả ba tù nhân đã làm thành nội dung chính của thông điệp này, chứ không phải kiến thức của cá nhân một nhà lãnh đạo tôn giáo, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI. Nói cách khác, đọc thông điệp Hy Vọng, nhưng chúng ta sẽ hội ngộ với niềm tin của ba tù nhân này.

Khi bắt đầu làm việc với Thông Điệp, giả định của tôi là tìm kiếm những ảnh hưởng của thánh Augustinô trong Thông Điệp. Tôi giả định rằng ảnh hưởng này chỉ xảy ra trong một vài câu trích dẫn hay Đức Thánh Cha sẽ dùng lại một vài tư tưởng của thánh Augustinô. Nhưng sau hai lần đọc thông điệp này, tôi xác quyết rằng giả định đầu tiên của tôi chỉ là một giả định, một giả thuyết mang tính trực quan. Vì theo kết quả của việc đọc và chú giải Thông Điệp cách chủ quan của tôi, tác giả của Thông Điệp là Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, nhưng thánh Augustinô lại “phủ sóng” trên Thông Điệp cách sâu xa. Tầm phủ sóng của thánh Augustinô không những hiện diện cách tiềm ẩn trong Thông Điệp, nhưng còn được minh chứng vào các lần nói chuyện gần đây của Đức Thánh Cha vì ngài chỉ xoay quanh trục Augustinô. Nói cách khác, thông điệp Spe salvi mặc chiếc áo “Bênêđictô XVI” nhưng cái ruột lại là “Augustinô”. Nếu như thế kỷ khoa học siêu chip 21 này lại dùng cái ruột của thế kỷ thứ ba, có lẽ người đọc sẽ nhàm chán và cho rằng Thông Điệp chỉ là một sáo ngữ hay điệp ngữ, chỉ là một giảng dạy của giáo triều, chỉ là mớ giáo lý tôn giáo, có gì để “chào hàng” với “thế giới phẳng” ngày nay? Thế nhưng, cái ruột này lại được pha trộn với các trào lưu hiện đại, với các chứng nhân của thế kỷ 20 là người nô lệ Josephine Bakhita, mới 9 tuổi đã bị mua đi bán lại tới 5 lần, với chứng nhân hy vọng Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận với 13 năm tù. Và đó là lý do tôi chọn đề tài “Ba Tù Nhân, Một Niềm Hy Vọng”.

Thông điệp của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI bắt đầu với thư của thánh Phaolô gởi cho giáo đoàn Rôma 8:24 “Spe salvi facti sumus”. Nhưng tư tưởng Spe mà Đức Thánh Cha trích dẫn không chỉ là nội dung chỉ đạo trong Thông điệp này, nhưng thật ra, tư tưởng Spe này lại tràn ngập trong Tự Thú của thánh Augustinô và trong bốn tác phẩm của cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Cả ba tù nhân đều uống nguồn suối Kinh Thánh. Thánh Augustinô đã ghi lại trong tập số VI và XI là “Chúa là hy vọng của con”.[3] Cố Hồng y Nguyễn văn Thuận đã viết về chọn lựa của mình là nếu phải chọn lại, ngài không chọn con đường nào khác vì ngài đang hy vọng vào Chúa. Tù nhân Nguyễn văn Thuận khuyên người Công giáo Việt nam phải trở nên “ánh sáng giữa đêm tối, muối sống giữa thối nát, hy vọng giữa một nhân loại thất vọng” vì họ là “những người đợi chờ, những người hy vọng Chúa quang lâm”.[4] Có niềm hy vọng nào mạnh mẽ hơn, xác tín hơn và người hơn niềm hy vọng của tù nhân Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Có giảng dạy của giáo triều nào tràn ngập sức sống đức tin hơn một giảng dạy về hy vọng được viết từ ngục tù? Có bức thư luân lưu của một giám mục nào ngập tràn đức tin và đức cậy hơn lời khuyên nhủ của cố Tổng giám mục hiệu tòa Vadesi này? Một tù nhân lại đi khuyên bảo những người được “tự do” bên ngoài. Tù nhân này ảo vọng lắm chăng? Niềm hy vọng Kitô của Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã lật ngược ván cờ. Niềm hy vọng Kitô này đặt cho chúng ta câu hỏi: Ai đang ở trong tù và ai thật sự đang tự do? Câu trả lời không nằm trong hiện tượng ai đang bị giam vào bốn bức tường, nhưng câu trả lời nằm trong niềm hy vọng mà Spe salvi đặt cơ sở trên “Đấng điều hành vũ trụ. ... Bấy giờ, chúng ta không còn là những nô lệ cho vũ trụ và các định luật của nó, mà chúng ta là những con người tự do” (SS 5).

Cả ba “tù nhân nhưng tự do” này cùng sống Spe salvi của Phaolô. Họ đang gởi gắm cho chúng ta một chìa khóa khá quan trọng. Đó là cả ba chứng nhân hy vọng này cùng tư duy với Giáo hội. Họ cùng sentire cum ecclesia.  

Sentire cum ecclesia có nghĩa là tư duy cùng với Giáo hội. Ý nghĩa này đã là điểm khởi động, “lực đẩy lên cao và lực đẩy tới trước” của Spe salvi. Ngay từ đầu và xuyên suốt Thông Điệp, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã trích dẫn tư tưởng của thánh Phaolô nhiều lần. Ngoài nguồn Phaolô ra, nguồn Augustinô cũng là mạch ngầm chủ lực. Tuy tên tuổi của thánh Augustinô chỉ được nhắc đến 13 lần trong Thông điệp, nhưng niềm hy vọng của thánh Ausgustinô lại phủ sóng toàn bộ Thông Điệp. Tên tuổi của Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận chỉ được Thông Điệp nhắc đến hai lần, nhưng Spe salvi mà tù nhân này thao thức trong 9 năm biệt giam lại ôm trọn cả Thông Điệp. Như thế, Thông Điệp này mời gọi các bạn trẻ thành phố ngày nay sentire cum ecclesia. Lời mời gọi của Thông Điệp cho các bạn để các bạn cùng tư duy, cùng trăn trở, cùng khao khát và cùng hy vọng những gì Giáo hội đã hy vọng từ sau Phục sinh và vẫn đang hy vọng trong thế kỷ XXI này. Giáo hội không sáng chế ra những tư duy mới, nhưng Giáo hội chỉ tư duy những gì Đức Giêsu Kitô đã tư duy trên hành trình trần thế của Ngài. Như thế, tư duy cùng với Giáo hội là tư duy cùng với Đức Giêsu Kitô. Tư duy cùng với Giáo hội như Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã tư duy theo dòng chảy lịch sử nhân loại mà lịch sử Giáo hội lại nằm trong lịch sử này. Ngày nay, đa phần các bạn trẻ chỉ tư duy theo luồng duy tâm, duy lý và duy vật chất. Những luồng tư duy này không đưa ra một niềm hy vọng vĩnh cửu nào cả. Những luồng tư duy này chỉ bị cuốn theo “niềm tin vào tiến bộ”. Theodor W. Adorno lên án “niềm tin vào tiến bộ khi ông nhận định “tiến bộ đi từ cái ná cao su đến quả bom nguyên tử” (SS 22). Sự tiến bộ mà các bạn di dân đang có không phải là hành trình từ cái ná đến bom nguyên tử hay sao? Sự tiến bộ mà các sinh viên vừa ra trường có được không mang theo hình thức từ cái ná đến bom nguyên tử hay sao? Sự tiến bộ của Âu Mỹ không phải là đi từ “cái ná nguyên tử” đến “cái ná con chuột” hay sao?

Nhận ra “niềm tin vào tiến bộ” của con người này, nhưng không thở cùng lá phổi với niềm tin này, Đức Thánh Cha thở lá phổi của thánh Phaolô, tư duy với thánh Augustinô, chia sẻ kinh nghiệm ngục tù của cố Hồng Y Nguyễn văn Thuận. Tiến trình tư duy cùng với Giáo hội này mời gọi các bạn trẻ đang để cho “nhục dục nhơ nhớp và sự bồng bột của tuổi xuân xông lên ... dìm [họ] xuống vực thẳm của các nết xấu ... Sự dâm đãng đã làm cho [họ] dao động, xiêu té, phung phí và tiêu tan sức lực”.[5] Sentire cum ecclesia mời gọi các bạn hãy trở lại dòng sông Kitô để tư duy cùng với Giáo hội Kitô.

Khi cả ba tù nhân, Augustinô, Joseph Ratzinger và Nguyễn Văn Thuận tư duy cùng với Giáo hội, tư duy cùng với thánh Phaolô, cả bốn con người này đều có một tâm điểm, đều chịu một lực hút, một quỹ đạo, đó là quỹ đạo Kitô.

Quỹ đạo Kitô”

Đức tin là hy vọng. Đây là hành trình của ba tù nhân. Hành trình niềm tin này được xây dựng trên niềm hy vọng mà cả ba đều tin chắc rằng “cuộc đời [của] họ không kết thúc trong hư vô” (SS 3). Dù là công dân Phi châu, Âu châu, hay Á châu, cả ba người Kitô hữu này đều được Tin Mừng Kitô thay đổi đời sống của họ. Spe salvi xác quyết rằng Tin mừng Kitô giáo không chỉ “thông tin” nhưng còn “thay đổi đời sống” người nghe. Vì thế, niềm hy vọng của ba tù nhân này là niềm hy vọng được cứu rỗi. Họ được cứu độ nhờ vào Đức Kitô phục sinh chứ không nhờ vào di sản tri thức và chức vụ mà họ đã lãnh nhận vì “trong Đức Kitô, ..., Thiên Chúa đã thông truyền cho chúng ta ‘bản thể’ của những gì phải đến” (SS 9). Niềm hy vọng vào Đức Kitô phục sinh không phải là một niềm hy vọng vào tương lai chưa xảy ra, nhưng niềm hy vọng Kitô xoay quanh tâm điểm Đức Kitô phục sinh, Đấng đã chết nhưng vẫn hiện diện. Niềm hy vọng Kitô là một “hiện tại đang hiện tại hóa tương lai”. Niềm hy vọng của ba “tù nhân nhưng tự do” này hoàn toàn khác với các niềm hy vọng “tích lũy và gia tăng” của các bạn trẻ ngày nay, khi họ đang ao ước có thêm vật chất, thêm kiến thức, thêm danh vọng, nhưng thật ra, họ càng đạt được những niềm hy vọng này, họ lại càng trở thành những người “tự do trong lao tù” hy vọng của họ. Ngày nay, các bạn trẻ đang “hy vọng về một tình yêu làm ta no thỏa; hy vọng đạt được một vị trí nào đó trong nghề nghiệp; đạt đến thành công”. Những niềm “hy vọng trong ngục tù” này thuộc về những niềm hy vọng diễn tả “triều đại Thiên Chúa đã bị thay thế cho triều đại con người” (SS 30). Nếu người thay thế Chúa, hỡi các bạn trẻ ngày nay, các bạn đang sống trong tự do hay đang sống trong ngục tù của vật chất, đang hy vọng vào cái gì và hy vọng vào ai? Niềm hy vọng của các bạn là “bánh vẽ” hay là một thực tại?

Khi tôi đặt ra câu hỏi tại sao có niềm hy vọng ảo và niềm hy vọng chân thật, tôi muốn quay trở lại niềm hy vọng chân thật mà ba tù nhân đã và đang sống. Họ sống niềm hy vọng của họ chỉ vì trong cuộc đời cá nhân của họ, họ đã hội ngộ với Chúa của họ. Niềm hy vọng được cứu độ của họ phát sinh từ cuộc hội ngộ với một Thiên Chúa xác thể vì không có hy vọng Kitô, nếu không có một Thiên Chúa xác thể đã sống lại (SS 3). Thiên Chúa xác thể là Thiên Chúa đã sinh ra, đã sống, và đã chết vì tình yêu trên thập giá. Thông Điệp cụ thể hơn khi nói rằng “Thiên Chúa đã đích thân bước vào lịch sử ... và chịu đau khổ trong lịch sử” (SS 36). Như thế, “Thiên Chúa không thể nào đau khổ, nhưng Ngài có thể đau khổ với” con người (SS 39). Người tự “mạc khải dung nhan Người nơi hình hài một con người đau khổ” (SS 43). Vì thế, cái chết không phải là tiếng nói cuối cùng trong cuộc đời của Đức Giêsu lịch sử. Sự phục sinh của Ngài đã làm cho ba tù nhân này hội ngộ với chính Ngài ngay trong cuộc sống thường ngày của họ. Đây là cuộc hội ngộ hy vọng với “Chúa các Chúa, Thiên Chúa hằng sống” (SS 4). Có cuộc hội ngộ hy vọng nào ly kỳ bằng cuộc hội ngộ hy vọng với một Thiên Chúa đã chết, nhưng vẫn hằng sống?

Đúng thế, khi chúng ta hội ngộ với một Thiên Chúa xác thể, một Thiên Chúa “Impassibilis est Deus, sed non incompassibilis, một Thiên Chúa không thể đau khổ, nhưng Người đã đau khổ với” chúng ta, một Thiên Chúa đã chết nhưng vẫn hằng sống, chúng ta đặt niềm hy vọng của chúng ta không theo lực hút của trái đất, nhưng theo “quỹ đạo Kitô” (SS 39). Một quỹ đạo đã kết thúc khoa chiêm tinh (SS 5). Như thế, những định luật xã hội, vật chất, khoa học, tiến bộ, tiến hóa không còn là cơ sở cho niềm hy vọng của chúng ta nữa, vì tất cả những định luật này đều tương đối và tạm thời, không thể nào là niềm hy vọng của chúng ta.

Quỹ đạo Kitô kích hoạt từ bên trong và làm cho chúng ta người hơn, tự do hơn, và thực hơn. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI trích dẫn thánh Augustinô khi ngài viết “người nào xa cách Thiên Chúa, họ cũng xa cách chính họ, xa lạ với chính họ, họ chỉ có thể tìm thấy chính họ qua việc gặp gỡ Thiên Chúa. Hành trình này dẫn đến chính cá nhân họ, đến con người đích thật và chính căn tính của họ”.[6] Thánh Augustinô nói rằng khi nào chúng ta xa cách Thiên Chúa, chúng ta cũng xa cách chính chúng ta. Hay nói cách khác, khi nào chúng ta hy vọng vào chính chúng ta, hy vọng vào khả năng và sức lực của riêng chúng ta, chúng ta chẳng hy vọng gì cả. Làm thế nào con người có thể trở thành nền tảng hy vọng cho con người? Chỉ khi nào Thiên Chúa là niềm hy vọng đích thực của chúng ta, lúc ấy, chúng ta trở nên chính chúng ta và chúng đang hiện tại hóa niềm hy vọng của chúng ta. Lúc ấy, chúng ta thanh thoát hơn vượt ra khỏi những định luật vật chất, những luống cày tham sân si, lúc ấy, “quỹ đạo Kitô” vén mở một nối kết giữa trời cao và đất rộng, một “hiện tại trong quá khứ và tương lai”. Vì thế, “quỹ đạo Kitô” không phải là một khung “trời trống rỗng”, một học thuyết trừu tượng, nhưng là một hành trình hy vọng vượt qua khỏi ranh giới sự chết, vượt qua khỏi con đường “bên này” để đến tới “bên kia” tuy vẫn sống trong hiện tại. Chính vì thế, quỹ đạo Kitô chỉ cho chúng ta con đường đi vào sự “chết nhưng vẫn hằng sống”. Quỹ đạo “chết nhưng vẫn hằng sống này” “nhá máy” cho chúng ta bản vẽ về “con người là ai và họ phải làm gì để trở nên” người hơn và tự do hơn (SS 6). Thông thường, con người chỉ muốn tự do bên ngoài ngục tù. Họ quan niệm rằng “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”. Nhưng có phải như vậy hay không vì theo ba tù nhân trên, “nhất nhật tại Kitô” là niềm hy vọng đích thực. Ở trong tù hay ngoài tù có gì khác nhau nếu như không có quỹ đạo Kitô làm chuẩn? Khi con người dùng tự do của mình để gặp gỡ hay hội ngộ với Đức Kitô, họ đang sống trong hiện tại nhưng thật ra, họ lại đang tham dự vào vĩnh cửu. Họ sống bên này ranh giới sự chết, nhưng lại đang tham dự vào “con đường ở bên kia” (SS 6). Con đường bên kia là con đường nào nếu không phải là con đường tương lai đang hiện diện trong hiện tại và tương lai, theo quan niệm của người Kitô, “không còn thuần túy là những gì ‘chưa xảy ra’” (SS 7). Để có thể sống trong quỹ đạo Kitô, ba tù nhân trí thức này đã trang bị cho chính mình một “sự vô tri thông thái” (SS 11).

“Sự vô tri thông thái”

Số 24 của Thông Điệp đi vào tâm điểm của vấn đề “chúng ta hy vọng điều gì?” Hay nói cách khác, chúng ta hy vọng vào ai? Người Kitô hữu không hy vọng vào một vị chúa không tên, một chương trình, một kế hoạch, hay một tiến bộ. Ba tù nhân Kitô này không hy vọng vào một vị Chúa không mặc xác thể, vào một huyền thoại, một truyền thuyết, nhưng niềm hy vọng của họ được xây dựng trên một con người lịch sử, Đức Giêsu Kitô. Con Người này là nội dung, phạm vi, phương pháp, mẫu mã hy vọng của người Kitô. Họ không đặt hy vọng của họ vào một “cái gì” hay “chương trình nào” có bao bì như tiến bộ khoa học lên cung trăng, một siêu người mẫu mới, một loại di động mới. Không, người Kitô hữu và đặc biệt ba tù nhân này có hypostasis trên Đức Giêsu chịu đóng đinh, chết đi, và Đức Kitô phục sinh. Đây là substantia cuộc đời của người Kitô hữu vì đây là “Đấng đã yêu thương chúng ta và yêu thương cho ‘đến cùng”, ‘đến khi mọi sự được hoàn tất’” (SS 27). Niềm hy vọng của người Kitô hữu không đặt trên công thức “nhân quả” hay “nếu ... thì”, nhưng niềm hy vọng của họ hệ tại một “tương quan với Đấng là mạch sự sống”. Sống trong tương quan với Đấng là mạch sự sống, họ sống hiện tại nhưng loại hiện tại-Vĩnh cửu. Loại hiện tại này vừa bao gồm hiện tại, quá khứ và tương lai. Với loại hiện tại xoay theo quỹ đạo Kitô, họ đang cộng tác với “Đấng là mạch sự sống” để hoàn tất substantia hy vọng của họ. Như thế, người Kitô hữu “hy vọng mà không hy vọng” vì những gì họ đang hy vọng lại đang xảy ra trong hiện tại cuộc sống của họ, trong lịch sử của trái đất này. Bởi vì “Đức Kitô đã chết cho tất cả”, cho nên, người Kitô hữu khao khát “kết hợp với việc sống cho của Ngài” (SS 28). Spe salvi gọi đây là “sự vô tri thông thái”. Sự vô tri thông thái này làm cho tương lai không còn là những gì chưa xảy ra nhưng tương lai lại hiện diện trong hiện tại vì “đức tin lôi kéo tương lai vào trong hiện tại, đến độ tương lai không còn thuần túy là ‘chưa xảy ra’.... Những gì sẽ xảy ra trong tương lại tuôn đổ vào những việc hiện tại và những gì của hiện tại tuôn trào vào những việc sẽ xảy đến” (SS 7).

Chính vì thế, “hiện tại-Vĩnh cửu” này chỉ có thể xảy ra trong “spe salvi facti sumus”. Như thế, đối với ba tù nhân này, sự “vô tri thông thái” là ơn cứu độ đang xảy ra trong dòng chảy của lịch sử nhân loại. Chính vì thế, ba tù nhân Kitô trí thức này đã sở hữu loại tri thức “vô tri thông thái” và họ đã hay đang được cứu độ ngay trong cuộc sống trần thế của họ. “Sự vô tri thông thái” của họ chứng minh rằng họ được cứu độ ngay trong ngục tù của họ.

Trong Tự Thú, thánh Augustinô nói về sự “vô tri thông thái” bằng thuật ngữ “cái biết mà không biết” bằng cách trích dẫn Thánh vịnh 144 và thư thứ nhất của Timôthêô. “Cái biết mà không biết này” này đã được Spe salvi nhắc lại trong phần 14. Spe salvi lý giải thêm về “cái biết mà không biết này” là “một cuộc xuất hành ra khỏi ngục tù của cái tôi” để mở ra cho cái “chúng ta”. Cuộc xuất hành mà người Do thái đã đặt hết tin tưởng vào Thiên Chúa qua trung gian của Môsê, để đi vào trong vô định và bất an. Khi người Do thái từ bỏ cuộc sống nô lệ của họ để tham dự vào trong lời hứa vô định, họ tự mở lòng họ ra để cho Thiên Chúa đi vào tương quan với họ. Sự mở lòng ra này là substantia làm cho vĩnh cửu hiện diện ngay trong hiện tại và nói cách khác, vĩnh cửu được hiện tại hóa nhờ thập giá và phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Như thế, niềm hy vọng của người Kitô đã tiếp nối với lời hứa Cựu Ước, vì người Do thái không hy vọng vào một mơ ước xa xôi viển vông vô thực, nhưng niềm hy vọng của họ có cơ sở trên Vĩnh Cửu “đột phá” vào trong lịch sử nhân loại. Xuyên suốt dòng lịch sử Do thái, Vĩnh Cửu đã luôn luôn can thiệp vào lịch sử của họ bằng cách này hay cách khác. Nhờ vào sự can thiệp này, quá khứ không còn là quá khứ, hiện tại không đơn thuần là hiện tại và tương lai không còn là “những gì chưa xảy ra”. Thánh Augustinô đã có kinh nghiệm này khi tâm sự trong Tự Thú rằng “vĩnh cửu là điều không so sánh được ... Trong vĩnh cửu, không có gì qua đi, mà tất cả là hiện tại”.[7] Hay nói cách khác, “sự sống vĩnh cửu có ý diễn đạt ‘thực tại vừa biết vừa không biết’” (SS 12).

Lồng tư tưởng này vào trong Kitô, thánh Augustinô xác tín rằng “ngày hôm nay của Chúa là vĩnh cửu”.[8] Như thế, cái ngày hôm nay lại là cái tương lai, niềm hy vọng của chúng ta. Nhờ “cái ngày hôm nay của Chúa”, chúng ta có thể kinh nghiệm “cái biết mà không biết” này của thánh Augustinô, sự vô tri thông thái của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, và Đường Hy Vọng của Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Hơn thế nữa, Spe salvi còn lý luận rằng “cái biết mà không biết này” vừa “dưỡng nuôi và vừa thay đổi” lý trí và tự do của con người. Do đó, lý trí và tự do của “cái biết mà không biết” không còn là lực “đối kháng với những liên hệ đức tin và Giáo hội” như Francis Bacon, Immanuel Kant, Friedrich Engels, và Karl Marx đã đề nghị qua phương án kinh tế, tiến bộ, và tư duy (SS 18). Nhưng thật ra, niềm hy vọng Kitô “chiến thắng sự phi lý” trở thành hệ quả trong “cái biết mà không biết” (SS 23). Như thế, “cái biết mà không biết” là substantia của “lý trí và đức tin”. Trong cái substantia này, con người sẽ nhận ra một sự tích hợp tuyệt vời giữa đức tin và lý trí, giữa tri và vô tri, giữa “những gì chưa biết” với những gì đang biết, giữa hiện tại và vĩnh cửu.

Deus totus ubique: Vĩnh cửu trong thời gian: “Thiên Chúa là tất cả trong tất cả”

Khi Spe salvi lý luận rằng “đức tin là hypostasis,... substantia, ... bản thể ... cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy, ... là những thực tại mà ta hy vọng” (SS 7). Lý luận này trình bày nội dung hy vọng của người Kitô. Những gì chúng ta hy vọng vào tương lai không phải là những gì sẽ xảy ra trong tương lai, nhưng lại chính là những gì đang xảy ra trong hiện tại. Vì thế, niềm hy vọng của ba tù nhân không còn là một sản phẩm từ huyền thoại, từ trí tưởng tượng, từ khoa học giả tưởng, nhưng chính là hiện tại mà hai tù nhân này đã sống và một tù nhân đang rao truyền và giảng dạy.

Thêm vào đó, substantia của hy vọng này có sức “biến đổi và nâng đỡ” chúng ta. Thông thường, trên nền tảng của chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa tiêu thụ, chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy lý, khoa học thực nghiệm, v.v... con người rất tự tin vào mình và cho rằng họ tự thay đổi cuộc đời của họ. Những gì họ sở hữu trong tầm tay của họ đang nâng đỡ cuộc đời của họ. Và như thế, họ không còn hy vọng gì về tương lai nữa, vì tương lai là đôi tay và chất xám của họ. Quá ảo tưởng! Quá tự lừa dối chính mình! Quá ngạo mạn! Khi con người tự lừa dối chính họ, họ còn có thể tin vào ai nữa. Hay nói cách khác, họ hy vọng vào ai nữa, nếu như cuộc đời của họ là tất cả. Như thế, đối với họ, quá khứ là những gì đã qua. Tương lai là những gì chưa đến. Và hiện tại là chính họ. Thế nhưng, từng giây phút hiện tại lại là một hư vô, một ảo giác, một cảm xúc “tính dục”, một lừa bịp thật tinh vi nếu không có quá khứ và tương lai. Nếu như, cuộc đời này là tất cả, có lẽ quan niệm của thánh Phaolô về “Thiên Chúa là tất cả trong tất cả” lại là một bánh vẽ hay sao? Phải chăng con người đang cạnh tranh và muốn thay thế Thiên Chúa khi họ quan niệm rằng cuộc đời hiện tại này là tất cả?

Tù nhân Augustinô, Joseph Ratzinger, Nguyễn Văn Thuận đã được biến đổi và được nâng đỡ không phải từ chỉ số IQ của họ, không phải từ 4.000 luận văn của Augustinô, không phải từ 85 cuốn sách và hơn 500 luận văn thần học của Ratzinger, và cũng không phải là 13 năm trong tù của Nguyễn Văn Thuận. Hoàn toàn không. Cả ba tù nhân này đều có chung một niềm hy vọng và niềm hy vọng đã biến đổi và nâng đỡ cuộc đời tù đày của họ. Chính cái hypostasis của niềm hy vọng đã “nuôi dưỡng và thay đổi” cuộc đời của họ. Theo ngôn từ của Kitô giáo, chính Thiên Chúa đã dưỡng nuôi và thay đổi cuộc đời của họ vì “Chúa ở trong con, sâu hơn thâm tâm con và hơn trí tuệ con”.[9] Chính cái hypostasis này gần họ hơn chính họ vì cá nhân họ đã đi ra ngoài, còn Chúa lại ở trong họ.[10] Đối với thánh Augustinô cũng như với Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, Thiên Chúa là tất cả và Người “tràn ngập cả trời và đất”.[11] Niềm hy vọng của cả ba tù nhân là “sự vô tri thông thái, docta ignorantia”, và là “cái biết mà không biết”.[12]

Hơn thế nữa sự hiện diện này còn nằm trong sự chết và đau khổ. Thông Điệp nhấn mạnh rằng Thiên Chúa hiện diện trong “thung lũng sự chết”, trong “vương quốc của tử thần” (SS 6). Như thế, có nơi nào mà Thiên Chúa không hiện diện. Cả đến trong những người thất vọng, Thiên Chúa cũng luôn hiện diện trong “những người sống trong tăm tối và vô vọng” (SS 8). Người còn hiện diện cả trong ngục tù (SS 32). Tóm lại, theo thánh Augustinô, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, và cố Hồng y Nguyễn văn Thuận, “sự vô tri thông thái” là “thời gian hiện hữu vì nó hướng về không hiện hữu”.[13]

Sola spe salvi:

Trong quan điểm của thánh Augustinô, thời gian là phù du và tạm thời. Các đế quốc sẽ qua đi nhưng Thành Đô Thiên Chúa là vĩnh cửu vì “cái gì hay thay đổi không phải là vĩnh cửu, mà Thiên Chúa chúng ta là Đấng Vĩnh Cửu”.[14] Khi thánh Augustinô tự hỏi về thời gian, câu hỏi này cũng có thể là câu hỏi về niềm hy vọng của chúng ta. “Vậy thời gian là gì? Nếu không có ai hỏi, thì con biết; nhưng nếu muốn giải thích cho người nào hỏi con, thì con không biết. ... Nhưng hai thời gian, quá khứ và tương lai, hiện hữu như thế nào được, vì quá khứ không còn nữa và tương lai chưa có. Còn như hiện tại, nếu cứ hiện tại luôn mãi và không đi vào quá khứ, thì nó không phải là thời gian nữa, mà là vĩnh cửu”.[15] Vậy Spe salvi là gì? Phải chăng niềm hy vọng Kitô thuộc về một thế giới nào đó sẽ đến trong tương lai? Phải chăng người Kitô hữu cũng tuyên xưng về niềm hy vọng Kitô, nhưng khi có ai hỏi người Kitô hữu về niềm hy vọng của họ, có thể, họ không thể giải thích được. Làm sao họ có thể giải thích được khi chính cá nhân họ chưa có lần nào hội ngộ với Chúa của họ trong hiện tại, chưa có lần nào gặp gỡ Chúa của họ trong lịch sử này, và nhất là chưa có khi nào họ gặp được Vĩnh Cửu trong hiện tại. Khi họ gặp gỡ với Vĩnh Cửu, họ gặp gỡ Thiên Chúa hằng sống. Sự gặp gỡ này đồng nghĩa với gặp gỡ niềm hy vọng, niềm hy vọng “biến đổi cuộc sống và thế giới này từ bên trong” (SS 4).

Người Kitô ngày nay chỉ có thể giải thích niềm hy vọng của họ cách thuyết phục khi họ hội ngộ với Vĩnh Cửu trong hiện tại. Lúc ấy, người Kitô hữu có thể tuyên xưng rằng họ sống trong hy vọng vào Thiên Chúa Vĩnh Cửu của họ. Nhưng giả như, trong cuộc sống hiện tại, họ không hội ngộ với Thiên Chúa Vĩnh Cửu của họ. Như thế, niềm hy vọng của họ lại rớt vào quỹ đạo tương lai. Một loại thời gian tương lai mà thánh Augustinô cho là tạm thời và phù du. Cũng trong cùng cuốn sách này, Augustinô lý luận rằng “tương lai là điều chưa có, và nếu chưa có, thì không là gì, và nếu không là gì, thì hoàn toàn không thể xem thấy được. Nhưng có thể tiên báo được là nhờ các sự hiện tại, là điều đang có và xem thấy được”.[16] Như thế, niềm hy vọng của người Kitô đang xảy ra trong hiện tại vì Chúa của họ là “Đấng Tạo hóa vĩnh cửu bất biến” và vì “Thiên Chúa là cá vị mới là Đấng điều hành các vì sao, nghĩa là, Đấng điều hành vũ trụ”.[17]

Tóm lại, niềm hy vọng của ba tù nhân này là niềm tin gặp được Thiên Chúa Vĩnh Cửu bất biến của họ ngay trong tù ngục. Và họ đã gặp Chúa của họ trong cuộc sống. Họ đã là những chứng nhân niềm tin và những chứng nhân niềm tin lại là chứng nhân hy vọng. Họ được cứu rỗi trong hiện tại này vì niềm hy vọng vào Đức Kitô phục sinh, chứ không vào những di sản tri thức mà họ để lại cho nhân loại. Họ đang nói với chúng ta rằng “con người cần đến Thiên Chúa, nếu không, con người vẫn thiếu vắng hy vọng” vì “Thiên Chúa là nền tảng của hy vọng” (SS 23 và 31).

Để kết, xin mượn lại trích dẫn của Spe salvi về thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh (1857) đã viết rằng “giữa cơn bão táp này, tôi đã thả một cái neo tận ngai Thiên Chúa: Đó là niềm hy vọng sống động trong lòng tôi” (SS 37). Cái neo hy vọng này được thánh Augustinô ghi lại là “Đừng nhìn ra bên ngoài bạn, nhưng hãy trở lại vào trong chính bạn”.[18] Lời khuyên của Phaolô Lê Bảo Tịnh và thánh Augustinô về cái neo nội tâm trở thành niềm hy vọng cho các bạn trẻ ngày nay vì “một thế giới không có Thiên Chúa là một thế giới không có hy vọng” (SS 44). Cuối cùng, chỉ có “Nước Thiên Chúa ... là lời đáp trả cho niềm hy vọng của chúng ta” (SS 35). SOLA SPE SALVI.  ª

 

 


[1] Tự Thuật, tập II, 1, tr. 223.  NXB Tôn Giáo, 2007.

[2] Ibid., tập II, 1, tr. 224.

[3] Ibid., tập VI, 6, tr. 294 và XI, 17, tr. 685.

[4] Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Đường Hy Vọng.

[5] Tự Thuật, tập II, 1, tr. 224.

[6] Bài giảng của thánh Augustinô.

[7] Tự Thuật, tập XI, 11, tr. 674.

[8] Tự Thuật, tập XI, 12, tr. 677.

[9] Tự Thuật, tập III, 6, tr. 263.

[10] Ibid., tập X, 27, tr. 608.

[11] Ibid., tập I, 2. tr. 178.

[12] Ibid., tập XII, 5, tr. 717 và Spe salvi số 11, tr. 22.

[13] Ibid., tập XI, 13, tr. 679.

[14] Ibid., tập XII, 15, tr. 733.

[15] Ibid., tập XI, 13, tr. 678-279.

[16] Tự Thuật, tập XI, 17, tr. 688.

[17] Ibid., tập XI, 27, tr. 710 và Spe salvi số 5, tr. 12.

[18] Augustinô thành Hippo, De Vera Religione, 39, 72.